Thêm
Khung giá giao dịch
Là vùng mà chuyển động trước đó đã dừng lại và có sự cân bằng tương đối giữa cung và cầu. Là nơi hình thành những chiến lược tích lũy hoặc phân phối. Phần lớn thời gian thị trường chuyển động trong một khung giá. Phân tích thật kỹ những điểm mạnh, điểm yếu trong nền giá sau đó tìm những tín hiệu xác nhận. Không phải khung giá nào cũng có sự quan tâm của SM. Khung giá tích lũy: Là một chuyển động giá giằng co đi ngang. SM mua - hấp thụ càng nhiều cổ phiếu càng tốt, không làm tăng giá đáng kể khi mua vào, cho đến khi cạn nguồn cung. Mức độ sóng tăng giá tỉ lệ thuận với thời gian hình thành quá trình tích lũy. Khung giá phân phối: Là một chuyển động giá đi ngang giằng co. Mục đích: SM bán cổ phiếu với giá cao tại một vùng giá. Bổi cảnh: Trước đó có một chuyển động tăng giá => Giá đã đạt đến ngưỡng hấp dẫn với SM.
Sửa
Volume - Mức độ quan tâm SM
Là tổng số cổ phiếu - hàng hóa đã được khớp lệnh giữa người mua và người bán. 1. Bằng Ma50 là trung bình. 2. Dưới Ma50 là thấp, không có thanh khoản (thường xảy ra ở phiên á và giờ nghỉ phiên âu). 3. Trên Ma50 là volume cao (Thường xảy ra ở phiên Mỹ). ** Phải so sánh volume trong từng phiên với nhau. Chú ý volume cao hoặc siêu cao - Dấu vết SM. Phân tích giá kết hợp với volume là cách duy nhất tìm ra dấu vết của SM.
Sửa
Cấu trúc so với nến
1. Cấu trúc thể hiện cung - cầu được 70%, nến 30%. 2. Trong một cây nến có thể là một cấu trúc tăng, giảm, đi ngang. 3. Cấu trúc thể hiện được chính xác cung cầu thị trường đang như thế nào. 4. Nến dùng để đo động lượng của giá - tốc độ di chuyển của giá. 5. Dùng nến an toàn hơn bằng cách kiểm tra lại cấu trúc bên trong. ** Nến tín hiệu không quan trọng bằng cấu trúc, xu hướng hiện tại. Cả cấu trúc và nến đều được vẽ dựa trên dữ liệu GIÁ và VOLUME tuy cung cấp thông tin theo hai cách khác nhau nhưng về ý nghĩa cung cầu phải giống nhau.
Sửa
Vùng vị thế SM - Vùng thanh khoản - Key level
1. Vùng được hình thành với volume cao hoặc siêu cao. 2. Vùng được hình thành bởi nhiều đáy/đỉnh "rõ ràng" (Tối thiếu từ 2 đáy/đỉnh) - Vùng SM lấy thanh khoản bằng cách kích hoạt stop loss của Retail Trader. 3. Vùng được hình thành ở khung thời gian lớn (Từ H4). 4. Vùng được hình thành trong phiên mạnh (phiên Mỹ). 5. Vùng được hình thành bởi sóng tăng/giảm cực kỳ mạnh - Phản ứng giá mạnh mẽ, di chuyển nhanh - biên độ lớn (Thường là nến nhấn chìm) hoặc sóng phá đỉnh/đáy đối diện.
Sửa
Làm gì khi bối cảnh không rõ ràng
1. Chuyển đến khung thời gian lớn hơn. 2. Thay đổi cổ phiếu/tiền tệ. ** Cứ tìm đúng setup chuẩn mà theo chứ không phải setup nào cũng phân tích, cũng vào.
Sửa
Phân tích biểu đồ từ con số 0
1. Phân tích biểu đồ từ các khung thời gian lớn và sau đó đi dần xuống các khung thời gian nhỏ. 2. Tìm kiếm sự kiện dừng xu hướng - Pha A xác nhận hoàn thành. 3. Nếu sự kiện dừng xu hướng = sự kiện phá vỡ hoặc rũ bỏ tiềm năng => Hãy mở khung thời gian nhỏ hơn để quan sát. 4. Điểm mấu chốt là sự ủng hộ của các cấu trúc nhỏ đối với sự hình thành của các cấu trúc lớn.
Sửa
Cách đánh Breakout
1. Phá vỡ TR với Volume cao (Mức độ quyết liệt cao). 2. Trụ vững ở ngoài TR (Hành động thể hiện cam kết của phe phá vỡ). 3. Test lại Key Level với Volume thấp (Áp lực cung/cầu giảm). 4. Xác nhận bằng việc phá vỡ cấu trúc nhỏ rồi đi tiếp (Xác nhận theo hướng phá vỡ). * * Chỉ báo hữu ích để đánh giá điểm phá vỡ có đẹp hay không là giá có cố gắng giữ để không quay trở lại TR. Điểm phá vỡ không phải là cơ hội giao dịch => Chờ các Test sau đó để xác nhận hành động phá vỡ này.
Sửa
Cách SM lấy thanh khoản
Hình thái: 1. Stop hunt: Volume thường cao hoặc siêu cao, bóng nến quét qua TR => Kỳ vọng TP ngắn. 2. Bull/Bear trap: Thân nến đóng qua TR - Dụ Retail Trader mua/bán => Kỳ vọng TP nhiều hơn (Thường không thấy volume vì volume đã được hấp thụ kín đáo trong cấu trúc). 3. Spring hoặc UTAD (Stop hunt hoặc Bull/Bear trap) ở Pha C => Kỳ vọng TP lớn vì là là đỉnh/đáy của một xu hướng - Đánh thuận theo xu hướng chính. Vị trí: Xảy ra tại những vùng hỗ trợ kháng cự, quan trọng. Đặc điểm: Giá sẽ quét qua nhanh và quay lại rất nhanh.
Sửa
Cách làm việc sử dụng cảnh báo
1. Xác định trước các vùng thanh khoản. 2. Đặt chuông báo khi giá tiến về. 3. Khi nào có chuông thì đưa vào View List. 4. Chờ Confirm và vào lệnh.
Sửa
Các loại nến
1. Up bar: Có giá thấp nhất và cao nhất cao hơn nến trước. 2. Down bar: Có giá thấp nhất và cao nhất thấp hơn nến trước. 3. Inside bar: Có giá thấp nhất và cao nhất nằm hoàn toàn trong vùng giá của cây nến trước. 4. Outside bar: Có giá cao nhất cao hơn giá cao nhất và giá thấp nhất thấp hơn giá thấp nhất cây nến trước.
Sửa
Quy tắc xác định sóng
Sóng tăng: Nến lên hoặc nến Outside bar phá vỡ đỉnh gần nhất. Sóng giảm: Nến xuống hoặc nến Outside bar phá vỡ đáy gần nhất. Nến Inside bar: Giữ nguyên sóng hiện tại.
Sửa
Tiêu chuẩn một hệ thống - set up.
1. Liệt kê danh sách những điều kiện cần có. 2. Thỏa mãn các điều kiện đó. 3. Vào lệnh với tâm thế không cảm xúc. 4. Lặp lại quá trình này đến khi nhuần nhuyễn nhất quán. ** Phải biết rõ hệ thống - SETUP có: 1. Tỉ lệ win bao nhiêu. 2. Tỉ lệ R:R là bao nhiêu. 3. Max drawdown là bao nhiêu. 4. Tần suất xuất hiện như thế nào.
Sửa
Đánh giá cung cầu
1. Cung và cầu có thể bị thay đổi trong quá trình phát triển cấu trúc. 2. Cần đánh giá liên tục các thông tin mới đang được đưa vào thị trường => Có một kịch bản phù hợp với những thông tin mới. 3. Làm việc trên cơ sở đánh giá thực tế cung cầu chứ không phải những gì người khác (tin tức) đưa cho bạn. 4. Cần phải hiểu cung - cầu có thể được diễn giải như thế nào trong các điều kiện thị trường khác nhau.
Sửa
Đánh giá cung cầu - Dựa vào 4 tiêu chí
1. Biên độ giá 2. Tốc độ giá 3. Volume 4. Lực đẩy Cầu nhiều hơn cung là do cầu mạnh hay là do cung yếu? Th1: cầu nhiều hơn cung nhưng cầu mạnh và cung cũng mạnh thì vol rất là cao. Th2: cầu nhiều hơn cung nhưng cầu mạnh và cung yếu thì không có vol. Th3: cầu nhiều hơn cung nhưng mà cung yếu và cầu cũng yếu thì cũng không có vol luôn. Khi có sự mất cất bằng nhỏ nhất giữa cung và cầu đều sẽ dẫn đến sự thay đổi về giá. Cung cầu hiện tại - đang diễn ra quyết định hướng đi của giá - Giá sẽ đi theo bên nào mạnh hơn.
Sửa
Quy trình theo kinh nghiệm
1. Học lý thuyết qua video, sách, học trực tiếp... 2. Tổng hợp lại kiến thức. 3. Xác định một phương pháp cụ thể. 4. Mở chart backtest thực tế theo phương pháp (1000 lệnh). 5. Ghi nhật ký, đánh giá, review. 6. Tối ưu phương pháp cho đến khi đạt được thành quả ỔN ĐỊNH. 7. Mở tài khoản giao dịch thực sự, trade quỹ.
Sửa
Các tổ chức khai thác thị trường
Cá voi: Quy mô rất lớn, dấu hiệu trên chart là xu hướng tuần, tháng (Supply/Demand WK, Mn). Cá mập: Quy mô lớn, dấu hiệu trên chart là H4, D1 (Supply/Demand H4, D1). Cá Con: Quy mô vừa và nhỏ, dấu hiệu trên chart là H1, M30 (Supply/Demand H1, M30).
Sửa
3 cách vào lệnh tại vùng Supply/Demand
1. Đặt Limit ngay tại Supply/Demand. 2. Đặt lệnh khi có nến đảo chiều xác nhận tại vùng Supply/Demand. 3. Đặt lệnh khi giá phá vỡ cấu trúc xu hướng.
Sửa
Tìm điểm vào lệnh hàng ngày
1. Sử dụng các vị thế nhỏ hơn là volume cao hoặc siêu cao ở khung H1, M30, M15 làm vùng Supply/Demand. 2. Sử dụng cấu trúc trên M5, M1 để xác nhận điểm vào lệnh - Không sử dụng vị thế tại khung này vì dễ bị phá vỡ. ** Đánh khung thời gian nào thì đợi nến đóng cửa trên khung thời gian đó. Chờ cho mô hình hoàn thành đủ sóng ABCDE. Dùng chiêu bỏ 1 lấy 2 (Không vào lệnh tại tín hiệu xác nhận đầu tiên, chỉ vào từ điểm thứ 2).
Sửa
Cách vẽ vùng cung cầu với nến tạo đỉnh hoặc đáy
1. Bảo thủ: Bóng nến + Thân nến. 2. Rủi ro cao: Toàn bộ cây nến. 3. Rủi ro thấp: Bóng nến. ** Áp dụng linh động tùy vào thể hiện của nến (dài, ngắn).
Sửa
Cách đặt Stop loss tối ưu
1. Đặt ở trên đối với đỉnh hoặc ở dưới đối với đáy vị trí SM lấy thanh khoản - Stop hunt một chút. 2. Đặt theo cấu trúc. 3. Hai vùng Key Level gần nhau thì SM sẽ quét vùng Key Level cao/thấp hơn.
Sửa
Vùng giá hỗ trợ - kháng cự
1. Vùng giá hỗ trợ là vùng có lực mua mạnh đẩy giá lên. 2. Vùng kháng cự là vùng có lực bán mạnh làm giá giảm.
Sửa
Thời điểm phân tích biểu đồ
Là diễn biến giá ngay tại thời điểm hiện tại vì nó có liên quan đến những diễn biến giá đã thể hiện trước đó. Thời điểm quan trọng thứ hai là ngay sau thời điểm hiện tại.
Sửa
Nghệ thuật đọc thị trường
Là quan sát tổng thể không tập trung vào từng thanh riêng lẻ. Tất cả các thị trường đều di chuyển theo giai đoạn. Chúng ta cần quan sát thị trường và tìm nguyên nhân cho giai đoạn tiếp theo. Để phản ứng nhanh và gần như bản năng với thị trường là đọc thị trường thông qua volume và hành động giá. Nhìn bức tranh tổng thể thì nhìn vào cấu trúc. Ra quyết định vào lệnh hay không thì dùng nến (VSA hiện đại).
Sửa
Quy luật Nguyên nhân - Tác động
1. Phải có tích lũy thì giá mới tăng. 2. Phải có phân phối thì giá mới giảm. 3. Thời gian tích lũy/phân phối càng lâu thì xu hướng sau đó càng mạnh mẽ.
Sửa
Spike and ledge
Mô hình 1: 1. Xuất hiện Climax với volume siêu cao. 2. Xuất hiện sóng tăng mạnh mô hình chữ V tại đáy 1 thể hiện CHOCH. 3. Đợi giá quay về Test và vào lệnh theo phá vỡ cấu trúc (Có thể chỉ hồi về vùng 0.618 - 0.5 của sóng CHOCH). Mô hình 2: 1. Xuất hiện Climax với volume siêu cao. 2. Xuất hiện sóng giảm nhưng chỉ giảm nhẹ không tạo CHOCH. 3. Giá hồi yếu không vượt đỉnh climax sau đó phá cấu trúc đánh của pha hồi thì ta sẽ vào lệnh. ** Chân gà mà gãy thì sẽ thành đại bàng - đền kèo. Giá không được phá đáy/phá đỉnh.
Sửa
Lờn học
1. Biết nhiều nhưng không sử dụng được = Vô dụng. 2. Không nhầm lẫn đơn giản với dễ dàng. 3. Thực hành với điều gì đó với một con số đáng kể. 4. Hãy làm vì nó tốt không hẳn là yêu thích nó = Vượt qua nhàm chán. 5. Trở thành kỹ năng.
Sửa
Hai vùng giá quan trọng
1. Key Level. 2. Vùng thanh khoản. * * Tất cả mọi giao dịch mua/bán đều tại vùng thanh khoản.
Sửa
Khổ đau - Không khổ đau
1. Nghịch cảnh + Thái độ chịu đựng = Không khổ đau. 2. Nghịch cảnh + Thái độ không chịu đựng, đáp trả, không chấp nhận, né tránh = Khổ đau. Càng cố gắng chạy trốn khổ đau thì càng dẫn đến khổ đau. Bất cứ thứ gì là phiền não, khó chịu thì đều là thầy của ta.
Sửa
Mẫu hình nến xác nhận đáng tin cậy
1. Engulfing: Thân và bóng bao trọn nến trước (64%). 2. Pin bar: Thân ngắn, bóng trên/dưới càng dài càng tốt (59%).
Sửa
Đa khung thời gian
1. Có cái nhìn rộng, tổng quan về thị trường. 2. Tăng tỷ lệ thắng. 3. Tăng tỉ lệ R:R. ** Chia khung thời gian theo tỉ lệ 1:4, 1:6. Mục đích kết hợp đa khung => Điểm vào lệnh ở khung thời gian nhỏ thuận hướng với khung thời gian lớn.
Sửa
Test - Kiểm tra vùng vị thế của SM
Là hành động giá quay lại Test vùng vị thế của SM để: 1. Đánh giá mức độ quyết liệt hay hời hợt của phe mua hoặc phe bán - Xác nhận bên nào đang kiểm soát thị trường. 2. Xác định mức Cầu còn lại trước giảm giá. Cung còn lại trước khi tăng giá. Có 2 khả năng xảy ra: 1. Volume hiện tại ở mức thấp: - Cho thấy sự thiếu quan tâm của người tham gia. - Kiểm tra có giá trị. 2. Volume hiện tại ở mức cao: - Vẫn còn những nhà giao dịch sẵn sàng can thiệp vào giá. - Giá chỉ tăng/giảm tạm thời. - Kiểm tra không có giá trị. - Chờ đợi các lần kiểm tra kế tiếp. Bảo vệ vị thế SM thành công - Test thành công: 1. Xác định vị thế của SM. 2. Giá quay lại test vị thế SM - Không phá đáy/đỉnh của SM. 3. Volume tạo đáy/đỉnh test thấp - Thấp hơn đường trung bình càng tốt. ** Kiểm tra để xác nhận - Test để confirm bên kiểm soát thị trường là bên mua hay bên bán, cung hay cầu nhằm xác nhận cho xu hướng đó tiếp tục chuyển động.
Sửa
Cách vẽ Key Level
1. Vẽ key level chưa bị phá (Đỉnh/đáy rõ ràng). 2. Chỉ nên vẽ 2, 3 Key level xung quanh giá hiện tại.
Sửa
Quasimodo
1. Vào lệnh tại vai phải nếu có tín hiệu. 2. Vào lệnh khi giá test đường trendline (Trendline tối thiểu đi qua 2 điểm) hoặc vùng cung/cầu. ** Sóng phá đáy/đỉnh nến có biên độ lớn hoặc volume cao hoặc siêu cao.
Sửa
Mẫu hình vai đầu vai
1. Đầu luôn là đỉnh cao nhất. 2. Đường cổ có thể tăng, giảm hoặc đi ngang. 3. Mô hình hoàn thành khi giá phá đường cổ. Cách giao dịch: 1. Tín hiệu phá đường cổ. 2. Đặt Stop loss ở vai phải. ** Đường cổ có nhiều điểm hình thành là đường cổ mạnh => mẫu hình đẹp.
Sửa
Mẫu hình tam giác
1. Ít nhất 4 điểm hình thành. 2. Đỉnh sau thấp hơn đỉnh trước. 3. Đáy sau cao hơn đáy trước. ** 1. Càng nhiều điểm hình thành mẫu hình thì càng đẹp. 2. Trong xu hướng tăng thì mua - Phá xuống dưới thì không vào lệnh. 3. Trong xu hướng giảm thì bán - Phá lên trên thì không vào lệnh.
Sửa
Mẫu hình sóng chéo
1. Các sóng giảm yếu dần - Tối thiểu 3 sóng giảm. 2. Đỉnh sau thấp hơn đỉnh trước. 3. Đáy sau thấp hơn đáy trước. 4. Có khuynh hướng hội tụ.
Sửa
Mẫu hình chữ nhật
1. Cần ít nhất 4 điểm hình thành. 2. Đỉnh sau ngang bằng đỉnh trước. 3. Đáy sau ngang bằng đáy trước. ** Mẫu hình nhiều điểm hình thành là mẫu hình đẹp. Nến không nên đóng cửa qua cản vì sẽ làm mẫu hình không còn giá trị.
Sửa
Quy luật cung - cầu cơ bản
Tất cả di chuyển giá cả trên thị trường tài chỉnh đều tuân theo quy luật cung cầu. 1. Cầu lớn hơn cung thì giá tăng. 2. Cung lớn hơn cầu thì giá giảm. 3. Cung cầu cân bằng thì giá đi ngang trong TR. 4. Giá tăng thì kích thích nguồn cung: Điều đó có nghĩa là khi bạn thấy giá tăng quá cao + volume tăng lên thì đó là volume nguồn cung vào. 5. Giá giảm thì kích thích nhu cầu: Điều đó có nghĩa là khi bạn thấy giá giảm quá thấp + volume tăng lên thì đó là volume nguồn cầu vào. 6. Cho dù nguồn cầu - cung vào thì không phải giá chắc chắn sẽ phải đảo chiều cho nên Wyckoff với đưa ra đủ 5 Pha - các sự kiện cho quá trình tích luỹ - phân phối. Nếu đáp ứng đủ những điều kiện đó thì khả năng giá sẽ đi theo như dự đoán. Giá di chuyển do cung - cầu được đưa vào thị trường qua hai loại lệnh: Lệnh giới hạn - Limit Order: Đóng vai trò làm giá dừng lại. Lệnh chủ động - Market Order: Đóng vai trò làm cho giá di chuyển. Chúng ta đánh giá cung - cầu trên thị trường thông qua hai thứ: 1. Một là vùng cung – vùng cầu. 2. Hai là xu hướng. Vùng cung: Là vùng tạo đỉnh trong quá khứ, nơi nguồn cung hoàn toàn chiếm ưu thế làm cho giá giảm xuống. Vùng cầu: Là vùng tạo đáy trong quá khứ, nơi nhu cầu hoàn toàn chiếm ưu thế làm cho giá tăng lên. Vùng cung - cầu: Là nơi tồn tại hai nguồn cung - cầu: 1 lượng dư cung cầu còn xót lại - Limit Order, 2 lượng cung - cầu mới được đưa vào - Market Order. Có nghĩa là tại 1 cái đỉnh trong quá khứ, chính là cái thời điểm mà Cung nó chiếm ưu thế hoàn toàn, hay các bạn hiểu là giá nó gặp phải một lượng lệnh Sell Limit quá lớn, hoặc lệnh Market Order mới thêm vào quá lớn mà những người mua người ta không thể mua hết được, cho nên là giá phải giảm xuống. Hay là cái nguồn hàng quá nhiều, người ta muốn bán hết hàng thì người ta phải giảm giá, phải Sale Off, thì giả nó phải xuống thì người ta mới bán được hàng. Và ngược lại, một cái vùng đáy trong quá khứ thì gọi là vùng Cầu. Vì sao vùng cung - cầu quá khứ có giá trị? Tại vì lượng cung - cầu còn dư chưa được khớp lệnh - Lương cung chưa bán được - Nhu cầu chưa mua được vẫn còn. Chúng ta đánh giá quy mô (lớn - nhỏ, mạnh - yếu, có giá trị) vùng cung - vùng cầu dựa trên volume. Volume hình thành vùng cung - cầu càng lớn càng tốt. Mình hiểu khi mà một giai đoạn có Volume rất là cao, có nghĩa là khớp lệnh giữa bên mua và bên bán rất là nhiều -> khớp lệnh rất là nhiều và sau đó giá giảm thì chứng tỏ nguồn cung rất mạnh -> nguồn cung mạnh thì cái lượng dư cung khả năng nó vẫn còn nhiều, hay là lượng “unfilled order” của bên bán còn nhiều, thì khi lệnh bán còn nhiều như vậy thì khả năng cao là giá sẽ đảo chiều khi nó tiếp cận về. Những vùng cung - cầu mà không dựa vào volume thì khả năng thành công sẽ thấp. Cung cầu trong xu hướng: Nếu chúng ta so sánh thị trường này giống như cuộc chiến giữa bên mua và bên bán, thì vùng cung & vùng cầu nó chỉ được xem như là một trận chiến nhỏ, mất cân bằng nhỏ, còn cái Xu hướng nó được ví như một cuộc chiến lớn. Khi các vùng cầu ngày càng cao, chứng tỏ người mua chấp nhận mua giá đắt hơn, người bán chỉ chấp nhận bản khi giá đắt hơn → xu hướng lúc này là tăng giá. Nếu Demand càng ngày càng cao, thì xu hướng là tăng giá. Nếu Demand càng ngày càng thấp, Supply càng ngày càng thấp, thì xu hướng là giảm giá. Đánh giá sức mạnh của xu hướng thông qua Volume: VSA có một ưu điểm tuyệt đối so với các phương pháp khác, đó là chúng ta có Volume để xác nhận, một xu hướng tăng mạnh thì các vùng Cầu ngày càng cao, đáy sau cao hơn đáy trước, đỉnh sau cao hơn đỉnh trước, nhưng trong VSA thì nó phải đi kèm với Vol, xu hướng tăng mạnh, các vùng cầu ngày càng cao 1. Các vùng cầu được hình thành với Volume lớn, có nghĩa là phe mua chiếm ưu thế tuyệt đối và phe mua rất mạnh. 2. Các sóng đẩy tăng được hình thành với Volume lớn. 3. Các sóng đẩy tăng phải kéo dài với tổng Volume lớn, tỗng Vol tức là chúng ta cộng khối lượng giao dịch của các sóng đó luôn. 4. Các bạn để ý trên chart, các đáy có Vol cao liên tục sẽ chứng tỏ Smart Money chịu mua với giá cao, xu hướng ngày càng tăng. Và các đỉnh với Vol cao liên tục, chứng tỏ Smart Money đang bán ra với thấp, xu hướng ngày càng đi xuống, đơn giản vậy thôi. 5. Các bạn lưu ý là các vùng vol cao trong xu hướng tăng là tại các đáy, còn vol cao trong xu hướng giảm là tại các đỉnh, để ý điều này thì các bạn mới không nhầm lẫn vol của xu hướng tăng hay xu hướng giảm. Dấu hiệu cảnh báo đảo chiều từ volume: Các vùng cầu ngày càng cao nhưng có những dấu hiệu bất thường: 1. Các sóng đẩy tăng được hình thành với Volume nhỏ, không có sự quan tâm của Smart Money trong xu hướng tăng, nhu cầu yếu. 2. Volume tăng cao đột ngột và biên độ giá rộng (buy Climax) -> Cung tham gia nhiều. 3. Volume tăng cao đột ngột mà giá không tiếp tục tăng, SM đè giá để bán ra → Cung mạnh. Nếu giá tiếp tục tăng mà Vol thấp, thì chứng tỏ SM nó không còn hứng thú với cái Trend tăng đó nữa, đó là dấu hiệu không tốt cho xu hướng tăng và cảnh báo đảo chiều. Hay là các bạn thấy, sau một xu hướng tăng đột ngột, Vol tăng cao lên, giá tăng kích thích nguồn cung, thì cầu sẽ giảm, hay có nghĩa là Vol này là Vol của phe Sell. Sau khi phe Sell vào thì giá nó dừng lại hoặc giảm thì nghĩa là phe Sell đang nỗ lực tạo đỉnh. Chiến trường giữa cung và cầu: Khi giá di chuyển chạm về vùng cung - cầu thì cung - cầu nó gặp nhau, khi mà cung - cầu gặp nhau thì nó sẽ có khớp lệnh giữa 2 bên. Thì bên Mua thì muốn đẩy giá tăng lên để có lợi nhuận, còn bên Bán thì muốn đẩy giá xuống để có lợi nhuận, hai bên tranh đấu với nhau tại vùng đó, thì đó gọi là vùng tranh chấp, hay còn gọi là chiến trường. Giá nó sẽ tiếp tục tăng hay đảo chiều phụ thuộc vào nguồn cung hay nguồn cầu bên nào mạnh hơn, chứ không phải giá cứ tới vùng Order Block hay tới Supply/Demand thì nó đảo chiều, cái đó là một quan niệm hết sức sai lầm. Nhiệm vụ của chúng ta là phải đánh giá cung - cầu khi 2 bên gặp nhau và tìm xem bên nào là bên thắng cuộc để chúng ta đi theo, đó là qui tắc giao dịch của Mr.Ben, cái điều này sẽ giúp cho các bạn bớt đi rất là nhiều vấn đề. ** Chúng ta phải liên tục đánh giá lại cung - cầu và nhìn vào tất cả những gì chúng ta thấy.
Sửa
Dấu hiệu nhận biết hấp thụ
Hấp thụ cung - Absorption of Supply: Là quá trình mà lực mua hấp thụ hoàn toàn lực bán tại một mức giá nhất định, khiến giá không thể giảm tiếp được nữa. Hấp thụ cầu - Absorption of Demand: Là quá trình mà lực bán hấp thụ toàn bộ lực mua tại vùng giá cao, khiến giá không thể tăng cao hơn nữa Vị trí: Tại đáy vùng giá tích luỹ. Tại đỉnh vùng giá phân phối. Hình thái nến hấp thụ: Cầu: Nến tăng nhưng không vượt đỉnh cũ, volume cao. Có thể là shooting star với volume lớn. Nến xác nhận: Nến giảm dài, đóng cửa gần đáy, volume tăng mạnh. Cung: Nến giảm, thân dài, volume cao, nhưng đóng cửa không thấp hơn đáy trước đó. Có thể là nến doji hoặc spinning top với volume tăng cao (giá “chịu đựng” áp lực bán). Nến xác nhận: Nến tăng lớn, đóng cửa gần đỉnh, volume tăng rõ rệt.
Sửa
Cách đọc Tape Reading hiệu quả
1. Tập trung vào hành vi giá và volume. 2. Tìm kiếm sự bất thường ở từng thanh nến hoặc giữa các thanh nến. 3. Tìm dấu vết của SM - Phân kỳ volume.
Sửa
Cách xác định volume thuộc bên mua hoặc bên bán
1. Căn cứ vào bối cảnh. 2. Căn cứ vào nến. Để đánh giá volume thuộc về phe mua hay phe bán.
Sửa
Nghề giao dịch
Cũng giống như bất kỳ ngành nghề nào khác, cần tích lũy kinh nghiệm, kiến thức theo thời gian. Nó là một hành trình dài, khắc nghiệt, nhiều đau đớn. Giao dịch thì không hào nhoáng như vẻ bề ngoài của nó.
Sửa
Sức mạnh và điểm yếu
1. Sức mạnh thực sự của thị trường xuất hiện trên những thanh giảm giá. 2. Điểm yếu của thị trường xuất hiện trên những thanh tăng giá.
Sửa
Hạnh phúc - Vấn đề
Hạnh phúc không phải là không có vấn đề mà là: 1. Chấp nhận vấn đề. 2. Đối diện với vấn đề bằng tâm bình an.
Sửa
Hạnh phúc - Cách sống
Hạnh phúc không phải là điều gì đó bạn tìm kiếm. Nó là cách bạn sống mỗi khoảnh khắc.
Sửa
Công việc chất lượng
Công việc chất lượng = Thời gian làm việc * mức độ tập trung. ** Mức độ tập trung quan trọng hơn rất nhiều.
Sửa
Mẫu hình 2 đáy VSA
1. Giá tạo đáy (1) với volume siêu cao - Vị thế SM. 2. Volume tại đáy (2) thấp - Thấp hơn đáy (1) hoặc thấp hơn đường trung bình - Cho thấy nguồn cung suy yếu. 3. Vào lệnh khi có mô hình nến đảo chiều xác nhận hoặc phá vỡ cấu trúc. ** Mô hình Test nguồn cung thành công.
Sửa
Mẫu hình VCP
Các điều chỉnh giảm trong một xu hướng tăng có: 1. Các sóng giảm hoặc điều chỉnh có biên độ ngắn dần. (Đợt điều chỉnh một mạnh nhất, Đợt điều chỉnh 2, 3 yếu dần). 2. Volume thấp dần theo từng sóng điều chỉnh (Hấp thụ cung cầu). ** Mô hình dùng để đánh tiếp diễn xu hướng tăng.
Sửa
Công thức hiểu sâu
1. Dành 10% học đúng thứ cần học - Phương pháp/Set up được chứng minh qua thời gian - Tỉ lệ thắng. 2. Dành 90% còn lại cho việc luyện tập hàng ngày. ** Làm rồi sửa sai lặp lại quá trình đến khi tối ưu. Tránh lan man. Tiết kiệm thời gian.
Sửa
Quá trình học tập
1. Giai đoạn học hỏi. 2. Giai đoạn luyện tập. 3. Giai đoạn bắt đầu có kết quả. 4. Giai đoạn trở thành chuyên gia.
Sửa
Cần hiểu bản chất của thị trường
1. Để một nhà giao dịch có thể bán thì phải có một nhà giao dịch khác sẵn sàng mua. 2. Các sự kiện sẽ luôn xảy ra khi thị trường chuyển trạng thái. 3. Xây dựng phương pháp tuân theo bản chất của thị trường => Khai thác thị trường. 4. Tối ưu phương pháp theo thời gian. 5. SM lừa mua lên để bán xuống. SM lấy thanh khoản phía trên thì chuẩn bị cho một xu hướng giảm. 6. SM lừa bán xuống để mua lên. SM lấy thanh khoản phía dưới thì chuẩn bị cho một xu hướng tăng. 7. SM luôn tìm cách mua thấp bán cao. 8. Chi tìm cách giao dịch khi thị trường đã lấy thanh khoản.
Sửa
Người có kỷ luật tốt
Là người có khả năng làm được những việc không muốn làm. Càng làm việc khó khăn bây giờ, tương lai càng dễ dàng hơn. Càng làm việc dễ dàng bây giờ, tương lai càng khó khăn hơn.
Sửa
Lý Tiểu Long
Tôi không sợ người tập 10.000 cú đá một lần. Tối sợ người tập 1 cú đá 10.000 lần.
Sửa
Nỗ lực
Thiên tài không tự sinh ra, tất cả nhờ sự nỗ lực không ngừng nghỉ. ** Nhưng cần phải nỗ lực-rèn luyện ĐÚNG.
Sửa
3 Nhân tố chính trong đầu tư
1. Quản lý vốn. 2. Phương pháp. 3. Tâm lý giao dịch, đầu tư.
Sửa
Xu hướng được chia theo khoảng thời gian
1. Xu hướng ngắn hạn. 2. Xu hướng trung hạn. 3. Xu hướng dài hạn. ** Cả ba xu hướng này không di chuyển theo cùng một hướng.
Sửa
Xu hướng - Trend line - Đường xu hướng
Trend line: Dốc lên phe mua đang có sức mạnh. Dốc xuống phe bán có sức mạnh. Nằm ngang cân bằng phe mua và phe bán. ** Thông qua các tín hiệu tăng-giảm giá đang xảy ra, đã xảy ra để xác định xu hướng tương lai. Kênh giá: Là đường thẳng song song với đường xu hướng. Đường chứa nhiều hành động giá nhất có thể. ** Giá vượt qua đường song song => Quá bán, Qua mua. Đường nằm ngang: 1. Đường kết nối ít nhất hai đáy là đường cầu - Đường hỗ trợ. 2. Đường kết nối ít nhất hai đỉnh là đường cung - Đường kháng cự. Đường cung - cầu: 1. Đường cầu - Xu hướng tăng: Được vẽ từ tối thiểu 2 đáy dốc lên. 2. Đường cung - Xu hướng giảm: Được vẽ từ tối thiểu hai đỉnh giảm dần. ** Đường qua nhiều điểm càng đáng tin cậy. ** Điều kiện đảo chiều xu hướng tăng - Xu hướng giảm thì ngược lại: 1. Xu hướng tăng bị phá vỡ. 2. Xu hướng giảm được hình thành Hoặc 1. Xu hướng giảm ngầm hình thành nhưng xu hướng tăng chưa bị phá vỡ - chờ khi xu hướng tăng bị phá vỡ thì xác định luôn xu hướng giảm đã xác nhận.
Sửa
Lý thuyết DOW
1. Mọi thứ được phản ánh vào giá: tin tức, lãi suất, thiên tai. 2. Xu hướng: Xu hướng tăng: Đỉnh sau cao hơn đỉnh trước, đáy sau cao hơn đáy trước. Xu hướng tăng bị phá vỡ khi giá giảm phá vỡ đáy tạo lên đỉnh cao nhất. Xu hướng giảm: Đỉnh sau thấp hơn đỉnh trước, đáy sau thấp hơn đáy trước. Xu hướng giảm bị phá vỡ khi giá tăng phá vỡ đỉnh được tạo bởi đáy thấp nhất.
Sửa
Fibonacci
1. Không thể hiện cung cầu. 2. Thể hiện sự cân đối giữa các sóng.
Sửa
Sóng dẫn hướng
1. Là những con sóng dốc - Momentum mạnh. 2. Thường gồm nhiều cây nến cùng màu liên tiếp.
Sửa
Không nên sử dụng nhiều phương pháp
Bản thân nhiều phương pháp có mẫu thuẫn với nhau. ** Chỉ dùng một phương pháp - Lý Tiểu Long.
Sửa
Các câu hỏi quan trọng
1. Key level là gì? Xác định nó như thế nào? 2. Lấy thanh khoản là gì? Xác định nó như thế nào? 3. Test là gì? Xác định nó như thế nào? 4. Xác nhận là gì? Xác định nó như thế nào? 5. Điểm vào lệnh tối ưu là gì? Xác định nó như thế nào?
Sửa
Vào lệnh tại các vùng khác nhau
1. Nếu tới vùng tiềm năng mà vào lệnh => Xổ số. 2. Nếu có tín hiệu tại vùng tiềm năng => Tỉ lệ win 5/5. 3. Nếu có test lại vùng tiềm năng => Tỉ lệ win 6/4. ** Nếu vào lệnh chưa có (3) thì là ăn sóng hồi - Ăn nhanh phải chạy thật nhanh. Khi nào Test (3) thành công thì hãy nghĩ xa hơn.
Sửa
Thuật ngữ lấy thanh khoản ở các trường phái
1. Wyckoff: Spring, Upthrust, Downthrust (Nến Pin bar hoặc Climax). 2. SMC vùng thanh khoản. 3. Price action: Fakeout, Bull trap, Bear Trap.
Sửa
Thói quen quyết định cuộc đời
Mọi hoạt động bạn làm đều cần có mục đích hướng tới tương lai. Nếu hành động không hướng tới tương lai thì đều không có giá trị.
Sửa
Thế giới bạn sống
Nếu bạn chưa được sống với thế giới mà bạn mong muốn thì đơn giản là bạn chưa xứng đáng. Hãy dũng cảm và kỷ luật để bắt đầu. Hãy tin vào sự nỗ lực, cố gắng của bản thân hơn là may mắn vô hình nào đó. Hãy là nhân vật chính trong cuộc đời của chính mình.
Sửa
Nỗi sợ - Cơ hội mới
Đứng trước một cơ hội mới mà mình cảm thấy sợ hãi: Hãy hỏi bản thân nếu vì những điều được cho là sợ hãi, khó khăn đó đó mà bỏ lỡ cơ hội để rồi sau này sống trong sự hối hận, tiếc nuối vì những năm tháng tuổi trẻ không làm? Hãy tự hỏi bản thân rằng liệu 100 năm sau những người đồng trang lứa đã khen, đã chê có còn nữa không, chỉ có ít những vĩ nhân được người đời nhớ lại, nhưng bản thân ta có thể viết cuộc đời cho chính ta, để cho ta không còn phải nuối tiếc, ân hận vì những gì ta chưa làm được, ta không dám làm. Hãy là người có giá trị cho chính bản thân, gia đình, những người gần bên bạn, rồi nữa là cho xã hội. Ý nghĩa của cuộc đời là không ngừng cố gắng và hoàn thiện bản thân.
Sửa
9 Lý do kìm hãm thành công
1. Thiếu tự tin. 2. Luôn tìm cách trì hoãn. 3. Bỏ cuộc giữa chừng. 4. Sợ bị từ chối. 5. Theo đuổi những giấc mơ viển vông. 6. Đặt ra những mục tiêu phi thực tế. 7. Luôn đổ lỗi - Coi mình là nạn nhân. 8. Không chịu học hỏi. 9. Tự giới hạn bản thân.
Sửa
Bí mật đằng sau sự rèn luyện của thiên tài
1. Sao chép y hệt kinh nghiệm, trí tuệ, kiến thức, năng lực, tư duy, hành động và phương pháp làm việc của các cao thủ hàng đầu. 2. Rút ra, hiểu ra quy luật cơ bản, cốt lõi, nguyên lý, bản chất bên trong rồi từ đó biển đổi, tối ưu cho phù hợp với thực tại, nhận ra mỗi liên hệ xung quanh.
Sửa
Khi đối diện với nghịch cảnh cần xem xét 4 yếu tố
1. Xem xét những khía có thể kiểm soát hoặc không thể kiểm soát. Không phàn nàn, đổ lỗi, đắm chìm vào những khía cạnh không thể kiểm soát và vào tư duy nạn nhân. Tập trung vào những khía cạnh bản thân có thể kiểm soát. Giữ tâm thế tích cực và sự tỉnh táo, bình tĩnh để đánh giá vấn đề. Nhìn nhận trách nhiệm của bản thân đối với vấn đề. Hầu hết những gì ảnh hưởng đến tâm trạng của chúng ta đều là những thứ nằm ngoài tầm kiểm soát. 2. Ai là người chịu trách nhiệm. Người giỏi có tư duy chịu trách nhiệm. Người bình thường có tư duy nạn nhân. Ai mất mát lớn thì là trách nhiệm của họ. 3. Xác định những ảnh hưởng tới bản thân. Tiền tài. Tinh thần, cảm xúc. Thời gian. Sức khỏe. … 4. Tính liên tục. Những ảnh hưởng tác động trong bao nhiêu ngày, tháng, năm.
Sửa
Tâm học Vương Dương Minh
Vô tâm tự túc có nghĩa là những gì tôi mong muốn đều nằm trong chính tâm hồn tôi, tôi phải nhìn vào bên trong và tìm kiếm sức mạnh từ đó. Tâm ngoại vô vật có nghĩa là không có gì bên ngoài tâm hồn có thể ảnh hưởng đến tâm trạng của chúng ta. Chi hành hợp nhất biết và làm là một. Sống đúng với đạo tâm của mình và thể hiện nó qua hành động - Mục tiêu và hành động phải hợp nhất với nhau. Tự quan sát có nghĩa là khi bạn biết mình đang làm gì, đang tức giận, lo lắng hay cảm thấy căng thẳng. Nếu bạn nhận ra những cảm xúc đó bạn có thể kiểm soát chúng thay vì để chúng điều khiển bạn.
Sửa
Bối cảnh là tổng hợp các yếu tố hiện tại
1. Xu hướng. 2. Volume. 3. Tín hiệu (Nến, Momentum, Biên độ nến). 4. Chỉ báo. 5. Tin tức kinh tế. 6. Các mức giá hỗ trợ/kháng cự quan trọng. 7. Thanh khoản.
Sửa
Công thức thành công
1. Làm, làm, làm => Bắt tay vào thực tế luôn. 2. Thu thập kết quả => Thu thập thông tin. 3. Điều chỉnh, điều chỉnh, điều chỉnh => Tối ưu.
Sửa
Tóm tắt
1. Bản chất của Wyckoff là tìm dấu hiệu mua vào tại vùng đáy và dấu hiệu bán ra tại vùng đỉnh. 2. Các dấu hiệu volume chỉ có giá trị khi nó kết hợp với di chuyển giá sau đó - Nỗ lực + kết quả. 3. Quá trình tích lũy là quá trình SM liên tục mua vào - Thường tại 3 đáy. => Có nhiều dấu hiệu mua vào tại một vùng giá - Vùng đáy. 4. Quá trình phân phối là quá trình SM liên tục bán ra - Thường tại 3 đỉnh => Có nhiều dấu hiệu bán ra tại một vùng giá - Vùng đỉnh. ** Xác định được tích lũy - phân phối TIỀM NĂNG xong thì tìm entry. 5. Các nhãn + event không có giá trị gì cho tới khi xác định được entry tiềm năng. Thay vì nghĩ về việc gán nhãn cho từng diễn biến giá, chúng ta hãy tập trung vào việc cố gắng xác định những dấu hiệu mà chúng ta quan sát được để có thể biết bên nào (bên mua hay bên bán) đang giành quyền kiểm soát thị trường. Khi học Wyckoff chúng ta nên tập trung vào cấu trúc tổng thể thay vì tập trung gắn các nhãn nhỏ. 6. Tất cả đều có thể thay đổi sau khi đã có đủ các điều kiện - Vì cung cầu thay đổi khi thông tin thay đổi > kỳ vọng của sm cũng thay đổi. 7. Một chiến dịch càng nhanh thì tỷ lệ thành công càng cao - Ít bị các yếu tố cơ bản tác động. 8. Không có chén thánh - Tất cả chỉ là dự đoán giá nhưng theo wyckoff thì dự đoán kèm điều kiện có lợi - Chỉ là xác suất. 9. Khi nào thấy cấu trúc giá có 2 đáy, 2 đỉnh và chuẩn bị hình thành đáy 3, đỉnh 3 thì chúng ta vào xem xét nó có phải cấu trúc Wyckoff không. 10. Các pha trong quá trình tích luỹ - phân phối bản chất là để đo lường cung - cầu. ** Bản chất mỗi Pha trong Wyckoff là đang đo lường cung - cầu. 1. Bắt đầu chiến dịch: Volume cao - Pha A. 2. Hấp thụ: Volumel giảm - Pha B - Pha C. 3. Đẩy giá: voume tăng - Pha D.
Sửa
BIAS
1. Giá di chuyển do SM. 2. SM thể hiện bằng volume. 3. Từ volume xác định được vùng giá trị - Value Area ( là khu vực chiếm 70% volume giao dịch). 4. Từ vùng giá trị + giá di chuyển lên trên hoặc xuống dưới thì ta xác định được vùng cung hoặc vùng cầu. 5. Từ đó xác lập xu hướng tiếp theo dựa trên vùng cung hoặc vùng cầu được xác nhận.
Sửa
Hiểu về setup của mình
Khi vào lệnh thì phải hiểu đang vào theo setup nào. Nếu giá di chuyển không đúng như setup thì thoát lệnh sớm - Tư duy đúng. Những dấu hiệu tiếp theo quan trọng hơn cái điểm vào lệnh. Khi vào lệnh rồi thì giá cần phải đi đúng theo mẫu hình mà bạn đã vào nếu không hãy thoát lệnh sớm.
Sửa
Check List - Cảm xúc
Việc phân tích chia 2 hướng: 1. Phân tích theo Checklist: Theo kế hoạch. 2. Phân tích chủ quan không có Checklist: Cảm xúc.
Sửa
Động niệm
Động niệm là khởi lên một ý nghĩ, một ý niệm hoặc một ý định trong tâm. Đây là giai đoạn đầu tiên của mọi hành động, bởi vì mọi hành động đều bắt nguồn từ suy nghĩ. 1. Giải thích về động niệm “Niệm” có nghĩa là suy nghĩ, tư tưởng, ý thức. “Động” có nghĩa là khởi lên, xuất hiện. “Động niệm” có nghĩa là tâm bắt đầu có một ý nghĩ, dù là thiện hay ác, tích cực hay tiêu cực. Trong Phật giáo, nghiệp (karma) được hình thành qua ba con đường: thân (hành động), khẩu (lời nói), và ý (ý nghĩ, tâm niệm). 1. Nếu chỉ là ý nghĩ thoáng qua, không nuôi dưỡng, không cố ý thì nghiệp xấu rất nhẹ, có thể không đáng kể. 2. Nếu ý nghĩ xấu được nuôi dưỡng liên tục, lặp đi lặp lại, hoặc tạo ra sự hận thù mạnh mẽ trong tâm, thì nó vẫn gây ra nghiệp xấu ngay cả khi chưa hành động. Làm sao để không tạo nghiệp xấu từ tâm? 1. Khi một ác tâm xuất hiện, hãy quán sát nó mà không dính mắc, để nó tự sinh tự diệt. 2. Nuôi dưỡng tâm từ bi, hỷ xả để thay thế những ý nghĩ tiêu cực. 3. Thực hành chánh niệm để kiểm soát tâm ý trước khi nó biến thành hành động xấu. Ví dụ: Khi nhìn thấy một người nghèo khổ, bạn khởi lên suy nghĩ muốn giúp đỡ → Đây là động niệm thiện. Khi ai đó xúc phạm bạn, bạn khởi lên suy nghĩ muốn trả thù → Đây là động niệm ác. 2. Vì sao động niệm quan trọng? Là nguồn gốc của mọi hành động: Mọi việc làm (thiện hay ác) đều bắt đầu từ một ý nghĩ ban đầu. Quyết định nhân quả: Nếu động niệm thiện, bạn gieo nhân thiện; nếu động niệm ác, bạn gieo nhân ác. Ảnh hưởng đến tâm thức: Nếu thường xuyên động niệm xấu, tâm bạn sẽ dần tiêu cực; nếu thường xuyên động niệm tốt, tâm bạn sẽ an lạc. 3. Làm thế nào để kiểm soát động niệm? Quán sát tâm: Nhận biết khi nào một ý nghĩ khởi lên, quan sát nó mà không bị cuốn theo. Chuyển hóa niệm xấu thành niệm tốt: Khi có suy nghĩ tiêu cực, hãy thay thế bằng suy nghĩ tích cực. Thực hành chánh niệm: Sống tỉnh thức trong hiện tại, không để tâm chạy theo vọng tưởng. 4. Kết luận Động niệm là bước đầu của mọi hành động và là cội nguồn của nhân quả. Muốn thay đổi cuộc đời, trước hết phải kiểm soát được niệm khởi lên trong tâm. Khi tiếp xúc với lục trần, cách động niệm đúng đắn sẽ quyết định tâm bạn có bị ràng buộc hay được giải thoát. Lục trần là gì? Trong Phật giáo, lục trần là sáu đối tượng của giác quan, bao gồm: 1. Sắc (hình ảnh, màu sắc – đối tượng của mắt) 2. Thanh (âm thanh – đối tượng của tai) 3. Hương (mùi hương – đối tượng của mũi) 4. Vị (vị giác – đối tượng của lưỡi) 5. Xúc (cảm giác khi chạm vào – đối tượng của thân) 6. Pháp (tư tưởng, ý niệm – đối tượng của ý thức) 2. Động niệm như thế nào khi tiếp xúc với lục trần? Khi gặp bất kỳ đối tượng nào của lục trần, tâm ta thường khởi niệm theo ba hướng: tham, sân hoặc si. Để tránh rơi vào những tâm niệm bất thiện, cần có cách ứng xử đúng đắn: 1. Khi tiếp xúc với sắc (hình ảnh, sự vật, con người) Không khởi tham đắm hoặc sân hận: Khi thấy vật đẹp, người đẹp, không để tâm dính mắc vào yêu thích hay khao khát chiếm hữu. Khi thấy vật xấu, người xấu, không sinh tâm chán ghét, khinh thường. Động niệm đúng: Quan sát sắc như nó đang là, không thêm thắt phán xét. Nhìn sắc tướng với trí tuệ, biết rằng mọi thứ đều vô thường, không bền lâu. 2. Khi tiếp xúc với thanh (âm thanh, tiếng nói) Không để tâm dao động trước lời khen chê: Khi nghe lời khen, không sinh tâm kiêu ngạo. Khi nghe lời chê, không sinh tâm sân giận. Động niệm đúng: Nghe với tâm bình thản, không bị cuốn theo. Nếu nghe điều hữu ích, tiếp thu; nếu nghe điều tiêu cực, bỏ qua. 3. Khi tiếp xúc với hương (mùi hương) Không sinh tâm tham ái hoặc chán ghét: Mùi hương dễ chịu không làm tâm đắm nhiễm, mùi hôi không làm tâm bực tức. Động niệm đúng: Biết rằng hương cũng chỉ là một hiện tượng vô thường, không có gì đáng dính mắc. 4. Khi tiếp xúc với vị (vị giác, thức ăn) Không để tâm dính mắc vào ngon – dở: Khi ăn món ngon, không tham đắm; khi ăn món dở, không bực bội. Động niệm đúng: Xem thức ăn là để nuôi dưỡng thân, không phải để thỏa mãn dục vọng. Quán chiếu rằng thức ăn cũng vô thường, chỉ là nhân duyên tạm thời. 5. Khi tiếp xúc với xúc (cảm giác cơ thể) Không quá chìm đắm vào cảm giác dễ chịu, cũng không chán ghét cảm giác khó chịu: Khi chạm vào vật mềm mại, ấm áp, không sinh tâm tham luyến. Khi gặp nóng lạnh, đau đớn, không sinh tâm sân hận, bực bội. Động niệm đúng: Nhận biết rằng cảm giác trên thân cũng chỉ là hiện tượng sinh diệt, vô thường, không có gì là “ta” hay “của ta”. Khi đau đớn, thay vì phản ứng theo thói quen, có thể quán chiếu rằng cảm giác này đến rồi sẽ đi. 6. Khi tiếp xúc với pháp (ý niệm, tư tưởng, ký ức, cảm xúc) Không để tâm bị cuốn theo suy nghĩ vọng tưởng: Khi nhớ về chuyện vui, không để tâm chìm đắm trong hoài niệm. Khi nghĩ đến chuyện buồn, không để tâm khởi lên phiền não. Động niệm đúng: Quan sát mọi ý niệm khởi lên mà không dính mắc. Biết rằng mọi suy nghĩ chỉ là pháp sinh diệt, không có thực thể cố định. Khi một ý niệm đến, hãy nhận ra nó, quan sát nó, rồi để nó tự nhiên tan biến. 3. Nguyên tắc chung khi tiếp xúc với 6 trần 1. Quán nhân duyên - Quán vô thường – Quán vô ngã – Tất cả do nhân duyên hợp thành, Tất cả các trần cảnh đều tạm bợ, không có tự ngã, bản thể, thay đổi không ngừng. Nếu bám chấp, chỉ tạo thêm khổ đau. 2. Không chấp thủ, không xua đuổi – Đừng tham đắm điều dễ chịu, cũng đừng ghét bỏ điều khó chịu. 3. Thực hành chánh niệm – Khi tiếp xúc với 6 trần, hãy nhận biết sự tiếp xúc đó mà không để tâm bị lôi kéo theo. 4. Kết luận Khi tiếp xúc với 6 trần, cách động niệm đúng là giữ tâm tỉnh giác, không bám chấp – Không xua đuổi, không sinh khởi tham – sân – si. Hãy quán chiếu rằng tất cả đều vô thường, chỉ là nhân duyên tạm thời, vô ngã. Nếu giữ được sự tỉnh thức này, tâm sẽ không bị trói buộc bởi ngoại cảnh, từ đó đạt được sự an nhiên, tự tại.
Sửa
Tâm có thể hiểu là
Nhận thức - Chỉ ghi nhận như một camera mọi sự vật hiện tượng khi giác quan tiếp xúc với hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị, xúc, pháp. Tưởng - Tưởng tượng, liên tưởng, hồi tưởng, phân biệt, gán nhãn, đặt tên... cho sự vật hiện tượng. Cảm thọ - Phản ứng khi tiếp xúc với sự vật hiện tượng (vui, buồn, giận, yêu, ghét.... Hành - Ý niệm tác ý, chủ ý, quyết định, hành động, so sánh, đánh giá... dẫn đến suy nghĩ, nói năng, hành động, thói quen.
Sửa
Sống tùy duyên
Duyên khởi và vô thường: Phật giáo dạy rằng mọi sự vật, hiện tượng đều do nhân duyên mà thành. Không có gì tồn tại độc lập hay bất biến, mà luôn thay đổi theo duyên. Vì vậy, sống tùy duyên là chấp nhận thực tại, hiểu rằng mọi việc đến và đi đều có lý do của nó. Buông bỏ chấp trước: Tùy duyên không có nghĩa là phó mặc số phận hay buông xuôi, mà là biết linh hoạt thích nghi, không cố chấp vào mong cầu của bản thân. Khi thuận cảnh đến, ta đón nhận với lòng biết ơn; khi nghịch cảnh đến, ta bình thản đối diện, không oán trách. Hành động nhưng không cưỡng cầu: Sống tùy duyên không có nghĩa là thụ động. Phật giáo dạy rằng ta vẫn cần gieo nhân thiện lành, nỗ lực hành động, nhưng không bám víu vào kết quả. Khi duyên đủ, hoa sẽ tự nở; khi duyên chưa đủ, ép cũng không thành.
Sửa
Ngũ uẩn
Muốn cơ thể mạnh phải bắt cơ thể vận động. Muốn tâm mạnh phải giữ tâm đứng yên. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức không phải là ta, không thuộc về ta. Cái mà ta gọi là ta chỉ là một sự tập hợp của duyên sinh. 1. Sắc uẩn Bao gồm thân thể vật lý và thế giới vật chất xung quanh. 2. Thọ uẩn – Cảm thọ Là cảm giác khi tiếp xúc với thế giới, không phải suy nghĩ hay phân biệt, chỉ đơn thuần là cảm giác. Có ba loại cảm thọ: Lạc thọ: Cảm giác vui thích. Khổ thọ: Cảm giác đau khổ. Xả thọ: Cảm giác trung tính, không vui không khổ. Chỉ quan sát các cảm thọ mà không phản ứng. 3. Tưởng uẩn Là khả năng nhận diện và gán tên cho mọi thứ xung quanh ta. Tường Uẩn không tạo ra thực tại mà chỉ phản ánh nó, giống như ánh trăng phản chiếu trên mặt nước. Nhưng điều thú vị là ánh trăng ấy có thể lung linh, rõ nét, hoặc méo mó, mờ ảo tùy thuộc vào trạng thái của mặt nước. Tương tự, Tưởng Uẩn phản ánh thế giới qua lăng kính của tâm trí ta, và lăng kính ấy không phải lúc nào cũng trong suốt. Đóng vai trò như một người ghi chép trong tâm trí, giúp ta nhận biết, lưu giữ và tái hiện lại những gì ta tiếp xúc qua các giác quan: hình ảnh ta thấy, âm thanh ta nghe, mùi hương ta ngửi, vị giác ta nếm, cảm giác ta chạm, và cả những ý nghĩ thoáng qua trong đầu. 4. Hành uẩn – Tạo tác, quyết định, phản ứng Chịu trách nhiệm tư duy, phân tích, suy luận, so sánh, đánh giá, quyết định và tạo tác. Quyết định phản ứng trước một sự việc, hình thành thói quen và nghiệp. Khi ta suy xét một vấn đề, lựa chọn hoặc quyết định hành động. Gồm các yếu tố: Tác ý, có chủ ý, ý chí, quyết định. Tư duy, suy nghĩ (thiện, ác, vô ký). Thói quen, khuynh hướng, nghiệp – Ban đầu chỉ là ý niệm nhất thời, nhưng qua thời gian trở thành thói quen. Phản ứng tâm lý khi đối diện với cảnh trần – Hình thành theo thời gian. Hành uẩn quyết định hành động của bạn, còn Thức uẩn chỉ đóng vai trò nhận biết. Kiểm soát hành uẩn để tránh tạo nghiệp xấu. 5. Thức uẩn – Nhận biết đơn thuần, không phân biệt Giống như một camera, chỉ ghi nhận, không suy nghĩ, không có ý chí, không tạo nghiệp. Các loại thức uẩn: Nhãn thức (thấy): Ghi nhận, tiếp nhận hình ảnh. Nhĩ thức (nghe): Ghi nhận, tiếp nhận âm thanh. Tỵ thức (ngửi): Ghi nhận, tiếp nhận mùi. Thiệt thức (nếm): Ghi nhận, tiếp nhận vị. Thân thức (xúc giác): Nhận biết nóng, lạnh, cứng, mềm, ngứa, đau... Ý thức (suy nghĩ, phân biệt): Ghi nhận, tiếp nhận suy nghĩ, phân biệt.
Sửa
Các câu Kinh hay
Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng Tất cả pháp hữu vi (hình thành từ nhiều yếu tố) như mộng, huyễn, bọt nước, bóng dáng, như sương mai, như tia chớp – nên quán chiếu như vậy để không chấp trước vào chúng. Phàm sở hữu tướng: Bất cứ điều gì có hình tướng, có thể thấy, nghe, cảm nhận hay nhận thức được. Đây là những gì thuộc về thế giới hiện tượng, bao gồm con người, sự vật, sự kiện, tư tưởng, cảm xúc, v.v. Giai thị hư vọng: Đều là hư ảo, không thật, không có tự tánh cố định. 1. Chấp vào thân thể Nghĩ rằng thân này là vĩnh viễn, không thay đổi. Sợ già, sợ bệnh, sợ chết, tìm mọi cách để níu kéo tuổi trẻ. Một người bị ám ảnh bởi nhan sắc, khi thấy mình già đi liền sinh phiền não, buồn bã, thậm chí tìm mọi cách để phẫu thuật thẩm mỹ nhưng cuối cùng vẫn không thể tránh được quy luật vô thường. 2. Chấp vào tiền tài, danh vọng Nghĩ rằng giàu có, quyền lực sẽ mang lại hạnh phúc lâu dài. Luôn lo lắng mất tài sản, địa vị. Một người rất giàu nhưng lúc nào cũng sợ bị mất tiền, không dám tiêu xài, sống trong lo âu và căng thẳng, đến khi mất đi thì tài sản cũng không mang theo được. 3. Chấp vào tình cảm Nghĩ rằng tình cảm là vĩnh cửu, không bao giờ thay đổi. Khi bị phản bội hoặc mất đi người thân, liền đau khổ tột cùng. Một người yêu sâu đậm nhưng khi bị phản bội thì đau khổ, dằn vặt, không chấp nhận sự thật, thậm chí tự hủy hoại bản thân. 4. Chấp vào tri thức, quan điểm Cho rằng kiến thức mình học được là chân lý tuyệt đối, không chịu tiếp thu ý kiến mới. Một người cố chấp vào quan điểm của mình, tranh cãi kịch liệt với người khác, không chấp nhận sự thật dù thực tế đã thay đổi. 5. Chấp vào hình tướng trong tu hành Nghĩ rằng phải mặc áo cà sa, ăn chay, ngồi thiền mới là tu hành chân chính. Nếu thấy ai không giống mình thì chê bai, phê phán. Một người nghĩ rằng chỉ có người xuất gia mới có thể giác ngộ, còn người tại gia thì không thể, nên sinh tâm ngã mạn và phân biệt. Thuốc không quý tiện, lành bệnh là thuốc hay Pháp không luận thấp cao, hợp cơ là pháp diệu 1. Thuốc không quý tiện, lành bệnh là thuốc hay Quý tiện nghĩa là đắt rẻ, sang hèn. Ý câu này là: Thuốc không quan trọng là đắt hay rẻ, quý hiếm hay bình thường, miễn là chữa khỏi bệnh thì đó là thuốc tốt. 2. Pháp không luận thấp cao, hợp cơ là pháp diệu Pháp ở đây có thể hiểu là phương pháp, đạo lý, giáo pháp trong Phật giáo. Thấp cao chỉ sự phân biệt giữa cao siêu và tầm thường. Hợp cơ có nghĩa là phù hợp với căn cơ, hoàn cảnh và khả năng của từng người. Ý của câu này là: Pháp không cần phải cao siêu hay bình thường, miễn là phù hợp với người cần nó thì đó là pháp vi diệu. Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm Ưng vô sở trụ – Không nên trụ vào đâu Trụ nghĩa là bám chấp, dính mắc vào một điều gì đó. Phật dạy rằng tâm không nên chấp vào bất kỳ điều gì trong thế gian: sắc tướng, âm thanh, cảm xúc, suy nghĩ, hay thậm chí cả giáo lý. Nhi sanh kỳ tâm – Mà sanh tâm Sanh tâm ở đây không phải là tâm vọng tưởng, mà là tâm từ bi, tâm bồ đề, tâm rộng lớn vô ngại. Nghĩa là dù không chấp vào gì, nhưng vẫn khởi tâm làm việc thiện, tu tập, giúp đỡ chúng sinh. Hiểu đơn giản: Không bám chấp vào bất kỳ điều gì, nhưng vẫn hành động vì lợi ích chúng sinh một cách tự nhiên, không dính mắc. 1. Làm việc thiện mà không chấp công đức Một người làm từ thiện nhưng không mong được khen ngợi hay đền đáp. Nếu giúp đỡ ai đó mà mong họ biết ơn thì vẫn còn chấp vào kết quả. Người hành Bồ Tát đạo giúp đỡ chúng sinh nhưng không chấp vào việc mình đang làm thiện. 2. Tu tập mà không chấp vào hình thức Có người nghĩ rằng phải ngồi thiền đúng cách, ăn chay trường, mặc áo nâu sồng thì mới là tu hành. Nhưng thực ra, tu là ở tâm, không phải ở hình tướng bên ngoài. 3. Sống trong đời nhưng không bị đời ràng buộc Người có tiền nhưng không để tiền ràng buộc mình, không tham lam. Người có địa vị nhưng không kiêu ngạo, không coi thường người khác. Phiền não tức Bồ đề Phiền não là những khổ đau, lo âu, sân hận, tham lam, si mê,... khiến tâm trí con người bất an. Trong Phật giáo, phiền não được xem là những chướng ngại cản trở sự giác ngộ. Bồ đề có nghĩa là giác ngộ, trí tuệ tỉnh thức, đạt đến sự giải thoát. 1. Không có phiền não thì không có giác ngộ Bản chất của Bồ đề không phải là thứ gì xa lạ hay tách biệt với phiền não, mà chính từ phiền não mà người ta tìm ra con đường giác ngộ. Nếu không có khổ đau, con người sẽ không có động lực để truy cầu sự giải thoát. 2. Chuyển hóa phiền não thành trí tuệ Thay vì loại bỏ phiền não hoàn toàn, Thiền tông dạy rằng cần chuyển hóa phiền não thành Bồ đề, giống như biến bùn nhơ thành hoa sen. Khi nhận diện rõ ràng bản chất của phiền não và không bị nó chi phối, con người có thể đạt đến trí tuệ và sự giải thoát. 3. Tất cả do tâm mà ra Phiền não hay Bồ đề không phải là hai thực thể riêng biệt, mà chỉ là hai mặt của cùng một tâm thức. Khi tâm còn vô minh, chấp trước, phiền não sẽ sinh khởi. Nhưng khi tâm đạt được trí tuệ, sáng suốt thì chính phiền não ấy trở thành cơ hội để giác ngộ. Một người nóng giận, nếu không nhận ra cơn giận của mình, thì cơn giận đó sẽ là phiền não. Nhưng nếu người đó quán chiếu, hiểu rõ nguồn gốc của sự giận dữ và biết cách kiểm soát nó, thì sự giận dữ đó trở thành một bài học giúp họ trưởng thành, và đó chính là Bồ đề.
Sửa
Những yếu tố ràng buộc
1. Dính mắc là gì? Dính mắc là trạng thái tâm bám víu vào một điều gì đó, khiến nó trở thành một phần quan trọng trong tâm trí, không thể buông bỏ. Khi dính mắc, ta có xu hướng: Bị ràng buộc vào cảm xúc hoặc đối tượng (ví dụ: yêu thích quá mức một thứ gì đó, không thể chấp nhận mất đi). Tạo ra khổ đau khi điều đó thay đổi hoặc mất đi (ví dụ: dính mắc vào danh vọng, khi bị mất chức thì đau khổ). Xem mọi thứ là của tôi, thuộc về tôi và không muốn buông bỏ. Ví dụ: Một người quá yêu thích một món đồ đến mức khi mất đi thì đau buồn không nguôi. Một người dính mắc vào lời khen, khi không được khen thì thấy khó chịu, mất tự tin. 2. Cuốn theo là gì? Cuốn theo là trạng thái tâm bị lôi kéo bởi một suy nghĩ, cảm xúc hay hoàn cảnh nào đó mà không còn sự tỉnh thức, khiến bản thân mất tự chủ. Khi bị cuốn theo, ta có xu hướng: Đánh mất sự kiểm soát bản thân (ví dụ: quá giận dữ mà nói ra những lời làm tổn thương người khác). Bị cảm xúc dẫn dắt thay vì tỉnh thức quan sát (ví dụ: đang vui thì quá phấn khích, đang buồn thì chìm sâu vào đau khổ). Không nhận biết rõ ràng những gì đang xảy ra trong tâm. Ví dụ: Khi nghe ai đó chỉ trích, ta lập tức nổi giận, không suy xét mà phản ứng gay gắt. Khi quá vui, ta mất kiểm soát, tiêu xài hoang phí hoặc hứa hẹn mà không suy nghĩ. Khi suy nghĩ tiêu cực, ta cứ để tâm trí lún sâu vào đó mà không dừng lại để quan sát. 3. Không cưỡng cầu Chấp nhận những gì đến và đi theo duyên, không gượng ép. Nỗ lực hết mình nhưng không bám víu vào kết quả. Sống thuận theo tự nhiên, biết đủ là hạnh phúc. 4. Không chấp trước Chấp trước có nghĩa là bám víu, dính mắc vào một ý niệm, sự vật, hiện tượng nào đó và xem nó là thật, là cố định. Không khởi tâm chấp trước nghĩa là không để tâm bị trói buộc vào một điều gì, dù là vật chất hay tinh thần. 5. Không sinh ý niệm chia tách Chia tách có nghĩa là phân chia sự vật, hiện tượng thành hai phần riêng biệt, đối lập nhau. Không sinh ý niệm chia tách có nghĩa là thấy mọi thứ là một thể toàn vẹn, không phân chia thành từng phần tách biệt. Ví dụ: Sóng và nước: Khi nhìn thấy sóng, ta không chia tách nó khỏi nước, vì sóng chính là nước. Nhưng nếu ta nghĩ sóng khác với nước, thì ta đang chia tách. 6. Không bị dính mắc vào tư duy nhị nguyên Nhị nguyên là cách nhìn sự vật theo hai thái cực đối lập nhau: đúng-sai, thiện-ác, tốt-xấu, có-không, ta-người… Không dính mắc vào tư duy nhị nguyên nghĩa là không xem mọi thứ là tuyệt đối cố định. 7. Các trạng thái tâm dính mắc và ảnh hưởng của chúng 1. Dính mắc (Chấp trước, Chấp thủ) Tâm bám víu vào đối tượng, sự vật, ý niệm hay quan điểm nào đó. Nguyên nhân gây ra khổ đau vì tạo ra sự trói buộc và ngăn cản sự tự do của tâm. 2. Cố chấp Bám chặt vào quan điểm, nhận thức của mình mà không linh hoạt hoặc không sẵn sàng tiếp nhận sự thay đổi. 3. Bám víu (Ái chấp, Ái nhiễm) Luyến ái hoặc tham đắm vào điều gì đó như tài sản, danh vọng, tình cảm, thậm chí cả giáo pháp. Một trong những gốc rễ chính của khổ đau. 4. Cưỡng cầu (Cầu bất đắc khổ) Khi con người mong cầu một điều gì đó quá mức nhưng không đạt được, họ sẽ sinh khổ. 5. Cuốn theo Khi tâm bị cuốn vào các trạng thái cảm xúc như vui, buồn, yêu, ghét mà mất đi sự tỉnh thức. 6. Lôi kéo Tìm cách kiểm soát hoặc ép buộc người khác theo ý mình. 7. Tham đắm (Dục ái, Hữu ái, Phi hữu ái) Chìm đắm vào dục lạc, sự tồn tại hoặc mong cầu hư vô. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tái sinh trong luân hồi. 8. Xua đuổi Phản kháng, không chấp nhận một thực tại nào đó. Một dạng của bám víu—bám víu vào mong muốn loại trừ. 9. Tư duy nhị nguyên (Nhị nguyên luận, Nhị biên kiến, Phân biệt) Cách nhìn thế giới dưới dạng đối lập: tốt-xấu, đúng-sai, ta-người, có-không... Là một chướng ngại trên con đường giác ngộ vì tạo ra sự phân biệt và bám chấp vào một trong hai cực đoan. 10. Đối đãi (Tương đối, So sánh, Phân biệt đối xử) Tâm phân chia sự vật thành hai mặt đối lập và hành xử theo đó. 11. Trói buộc (Phược, Hệ phược, Kiết sử) Bị ràng buộc bởi tham, sân, si, các quan niệm sai lầm và thói quen nghiệp lực. 12. Luyến tiếc Không buông bỏ được quá khứ, níu kéo những gì đã mất. 13. Mong cầu Khát vọng mãnh liệt đối với một điều gì đó. 14. Kỳ vọng Đặt niềm tin quá mức vào một kết quả mong muốn. 15. Tâm trói buộc Một người luôn bị ám ảnh bởi quá khứ, tư tưởng, quan điểm,... không thể sống tự do. 16. Đồng hóa và không đồng hóa Không đồng hóa có nghĩa là không xem một điều gì đó là chính mình, không bám chấp vào nó như một phần của bản thân. Trong Phật giáo, không đồng hóa giúp ta nhận ra rằng cảm xúc, suy nghĩ, thân thể, danh vọng, tài sản… đều không phải là “ta”. Khi không đồng hóa, ta không bị khổ đau vì những thay đổi của chúng. 1. Ví dụ Đồng hóa với cảm xúc Tôi đang giận! Tôi là người nóng tính! Khi ai đó nói điều không hay, ta nghĩ rằng "Họ đang xúc phạm tôi", rồi tức giận và đau khổ. Không đồng hóa với cảm xúc Có cơn giận đang khởi lên, nhưng nó không phải là tôi. Nó đến rồi nó sẽ đi. Khi ai đó xúc phạm, ta chỉ thấy đó là lời nói, không phải là sự thật về bản thân. Đồng hóa với suy nghĩ Tôi là người thất bại! Tôi không giỏi! Khi thất bại trong công việc, ta tin rằng mình kém cỏi và mất hết tự tin. Không đồng hóa với suy nghĩ Đây chỉ là một ý nghĩ, nó không phải là tôi. Ta thấy rằng suy nghĩ chỉ là một hoạt động của tâm, không có giá trị tuyệt đối. Đồng hóa với cơ thể Tôi đẹp, tôi xấu, tôi phải giữ mãi vẻ ngoài này. Khi già đi hoặc ốm yếu, ta sợ hãi vì nghĩ rằng bản thân đã mất giá trị. Không đồng hóa với cơ thể Thân thể chỉ là tập hợp của tứ đại (đất, nước, gió, lửa), nó không phải là tôi. Khi hiểu điều này, ta không còn lo lắng về sự già nua hay bệnh tật. Đồng hóa với danh vọng, địa vị Tôi là giám đốc, tôi là người quan trọng. Khi mất chức vụ, ta đau khổ vì cảm thấy mình vô giá trị. Không đồng hóa với danh vọng Địa vị chỉ là duyên hợp, không phải là tôi. Khi mất chức, ta vẫn bình an vì biết rằng danh vọng không phải bản chất thật của mình. Làm sao để thực hành không đồng hóa? Nhìn mọi thứ như một hiện tượng khách quan Thay vì nói "Tôi đang giận", hãy nói "Có cơn giận khởi lên". Thay vì nói "Tôi buồn", hãy nói "Có cảm giác buồn đang xuất hiện". Khi quan sát như vậy, ta thấy cảm xúc chỉ là một hiện tượng thoáng qua, không phải "tôi". Quan sát mà không phán xét Khi có suy nghĩ tiêu cực, đừng cố xua đuổi hay đồng hóa với nó. Chỉ cần thấy rằng nó đến rồi đi. Ví dụ: Khi có suy nghĩ "Tôi thất bại", hãy nhận biết nó chỉ là một ý nghĩ, không phải sự thật. Nhận ra mọi thứ là vô thường Không có gì tồn tại mãi mãi, kể cả suy nghĩ, cảm xúc, thân thể hay hoàn cảnh. Nếu mọi thứ thay đổi liên tục, thì không có gì để ta bám chấp và xem là "tôi". Quay về với hơi thở và hiện tại Khi cảm xúc mạnh mẽ xuất hiện, hãy tập trung vào hơi thở. Hít vào: "Biết rằng đây chỉ là cảm xúc." Thở ra: "Nó đến rồi nó sẽ đi."
Sửa
Định - Tuệ
Định và Tuệ phát triển dần 1. Khi thực hành đúng cách, định dần tăng trưởng, giúp tâm vững vàng, ít xao động. 2. Tuệ giác sẽ phát sinh khi thấy rõ bản chất vô thường, khổ, vô ngã của vạn vật. 3. Khi trí tuệ đủ sâu sắc, tâm sẽ giải thoát khỏi tham ái và chấp thủ, đạt đến sự an lạc chân thật. 1. Định giúp tâm an tĩnh và sáng suốt Thông thường, tâm của con người luôn dao động, tán loạn, bị chi phối bởi tham, sân, si và các phiền não. Khi tâm loạn động, chúng ta khó có thể nhìn nhận sự thật một cách sáng suốt. Khi hành giả thực hành thiền định đúng cách, tâm sẽ trở nên tĩnh lặng, tập trung và ổn định. Sự tĩnh lặng này giúp loại bỏ các vọng tưởng, làm cho tâm giống như một mặt hồ yên lặng, phản chiếu rõ ràng mọi sự vật đúng như bản chất của chúng. Ví dụ: Giống như một ly nước đục, khi khuấy lên thì không thể nhìn thấy đáy. Nhưng khi để yên, các cặn bẩn lắng xuống, nước trở nên trong suốt, và chúng ta có thể thấy rõ những gì bên trong. 2. Định giúp thấy rõ bản chất của thực tại (Tuệ giác phát sinh) Khi tâm đã đạt đến một mức độ định nhất định, hành giả có khả năng quán chiếu sự vật hiện tượng đúng với bản chất thật của chúng – tức là thấy được vô thường, khổ, vô ngã. Ở mức độ cao hơn, hành giả có thể đạt được trí tuệ bát nhã, tức là thấy rõ bản chất chân không diệu hữu của mọi sự vật, không còn bám chấp vào chúng. 3. Tuệ phát sinh từ định có giá trị thực chứng Trong Phật giáo, trí tuệ có hai loại chính: Văn tuệ (nghe giảng, đọc kinh) Tư tuệ (suy nghĩ, phân tích) Tu tuệ (trí tuệ do hành trì mà có) Trong đó, tuệ phát sinh từ định (tu tuệ) là loại trí tuệ sâu sắc và chân thực nhất. Đó không phải là sự hiểu biết lý thuyết, mà là sự nhận thức trực tiếp và thấu triệt về chân lý. Ví dụ: Giống như một người đọc sách về bơi lội (văn tuệ) hoặc suy nghĩ về cách bơi (tư tuệ), nhưng chỉ khi thực sự xuống nước và bơi được (tu tuệ), họ mới có kinh nghiệm thực chứng. Trí tuệ phát sinh từ định cũng vậy – nó không phải là một sự hiểu biết đơn thuần mà là sự giác ngộ thực sự về bản chất của vạn pháp. 4. Định và Tuệ hỗ trợ lẫn nhau Dù định sinh ra tuệ, nhưng trong quá trình tu tập, định và tuệ không thể tách rời mà hỗ trợ lẫn nhau: Nếu có định mà không có tuệ: Có thể rơi vào trạng thái an lạc nhưng không hiểu rõ chân lý, dễ bị chấp vào cảm giác hỷ lạc trong thiền. Nếu có tuệ mà không có định: Sự hiểu biết dễ bị lý thuyết suông, không đủ tập trung để thực chứng. Do đó, hành giả cần định đủ sâu để phát sinh tuệ, và dùng tuệ để hướng dẫn định, tạo ra sự cân bằng trong tu tập.
Sửa
Tiến trình
Mọi sự việc đều diễn ra theo quy luật, tiến trình tự nhiên của chúng, không cần ép buộc, mong cầu hay kiểm soát. Điều quan trọng là chúng ta thực hành đúng, kiên nhẫn quan sát, chánh niệm và không dính mắc, không chấp trước, không so sánh.... Duy trì thực hiện đều đặn ngay cả khi chỉ có vài phút mỗi ngày.
Sửa
Cách hành thiền đúng
1. Chọn đối tượng hành thiền (hơi thở, niệm Phật, cảm thọ, mùi, vị, ý niệm, đối tượng...). 2. Chỉ chú tâm quan sát và ghi nhận đối tượng hành thiền - Không khởi bất cứ niệm nào. 3. Nếu tâm tán loạn, nhẹ nhàng quay trở lại đối tượng hành thiền.
Sửa
Chân tâm - Vọng tâm
1. Chân tâm là tâm không dính mắc vào vọng niệm tốt - vọng niệm xấu, dù vọng niệm có khởi lên cũng không làm tâm dao động. Đây chính là bản tâm thanh tịnh mà Phật hướng đến. 2. Vọng tâm là trạng thái tâm bị chi phối, dính mắc, luôn dao động, sinh diệt liên tục, không ổn định, dễ bị ảnh hưởng bởi ngoại cảnh dẫn đến phát sinh các tâm niệm tham lam, sân hận, si mê... Điều quan trọng là nhận diện và không để vọng tâm chi phối. Vọng tâm chỉ mạnh khi ta tin vào nó và nuôi dưỡng nó liên tục. Vọng tâm làm ta sống xa rời với thực tại. Cách nhận ra vọng tâm và quay về chân tâm 1. Quan sát tâm: Khi niệm khởi lên, hãy tự hỏi: "niệm này có làm mình dính mắc không?" Nếu có, đó là vọng tâm. 2. Không bám chấp: Đừng xem tâm tốt là "cái cần giữ" hay tâm xấu là "cái cần diệt". Hãy để chúng tự sinh tự diệt mà không dính mắc. 3. Thiền định: Khi tâm lặng yên, không còn phân biệt tốt – xấu, chỉ đơn thuần "biết", đó là chân tâm hiển lộ. *** Vọng: Khi bạn làm một việc thiện, nhưng trong lòng vẫn mong người khác khen ngợi, đó là vọng tâm. Khi bạn giúp đỡ ai đó, nhưng trong thâm tâm vẫn còn cảm giác "mình đang làm điều tốt", thì cái niệm đó cũng là vọng tâm. Chân Một người hành thiện mà không chấp vào việc mình đang làm thiện, không mong cầu kết quả, chỉ đơn thuần làm vì bản chất tự nhiên của nó, đó là chân tâm vận hành. Một người đối diện với lời khen chê mà tâm vẫn bình thản, không vui khi được khen, không buồn khi bị chê, đó là chân tâm an trụ. Nếu suy nghĩ khởi lên mà bạn không chấp vào nó, không để nó dẫn dắt tâm trí, thì dù có suy nghĩ, tâm vẫn an tịnh. Nếu một ý niệm xuất hiện rồi tự nhiên mất đi, không làm bạn xao động, đó cũng là tâm an tịnh. Khi nhìn một bông hoa, bạn chỉ thấy bông hoa, không khởi tâm thích hay ghét, không suy nghĩ so sánh, đó là tâm an tịnh. Khi làm việc, bạn tập trung hoàn toàn vào công việc mà không bị lo lắng hay vọng tưởng xen vào, đó cũng là tâm an tịnh.
Sửa
Các tâm sở
1. 6 phiền não căn bản: Là những phiền não gốc rễ, làm nền tảng cho các phiền não khác. Tham – Lòng tham lam, mong cầu quá mức, không biết đủ <> Buông xả – Không dính mắc, biết đủ, hài lòng với hiện tại. Khi buông bỏ tham lam, tâm trở nên nhẹ nhàng, không bị ràng buộc bởi dục vọng. Sân – Sự nóng giận, thù hận, không kiểm soát cảm xúc <> Từ bi – Tình thương, lòng bao dung, ta biết tha thứ. Khi có lòng từ bi, ta biết tha thứ, không nuôi dưỡng hận thù. Si – Sự vô minh, không thấy rõ chân lý, chấp vào ảo tưởng <> Trí tuệ – Hiểu biết đúng đắn, sáng suốt. Trí tuệ giúp ta thấy rõ nhân quả, vô thường, vô ngã, không bị si mê lừa dối. Mạn – Kiêu ngạo, tự cao, xem thường người khác <> Khiêm tốn – Biết tôn trọng, không chấp vào bản ngã. Khiêm tốn giúp ta học hỏi, không tự cao, biết kính trọng mọi người. Nghi – Nghi ngờ chân lý, không tin nhân quả, Phật pháp <> Tín tâm – Niềm tin vững chắc vào nhân quả, Phật pháp. Khi có chánh tín, ta có động lực tu tập, không nghi ngờ lung tung. Tà kiến – Quan niệm sai lầm, ví dụ như không tin nhân quả, chấp vào ngã <> Chánh kiến – Nhận thức đúng về nhân quả, vô thường. Khi có chánh kiến, ta sống đúng đắn, không rơi vào tà đạo. 2. 20 phiền não tùy thuộc: Là những phiền não phụ thuộc vào 6 phiền não căn bản, xuất hiện trong các hoàn cảnh khác nhau. Chúng được chia thành ba nhóm: 2.1 10 phiền não nhẹ: Những phiền não này xuất hiện thường xuyên trong đời sống hàng ngày Phẫn – Oán giận người khác <> Khoan dung – Nhẫn nhịn, biết tha thứ. Khi kiên nhẫn và bao dung, oán giận không còn chỗ tồn tại. Hận – Giữ mối hận thù lâu dài <> Từ ái – Thương yêu, không chấp vào lỗi lầm của người khác. Não – Bực tức, khó chịu khi không vừa ý <> An nhiên – Bình thản trước mọi hoàn cảnh. Khi an nhiên, ta không dễ bị ngoại cảnh làm dao động. Tật - Ganh ghét, đố kỵ khi thấy người khác hơn mình <> Tùy hỷ – Vui mừng khi thấy người khác thành công. Khi tùy hỷ, ta không ganh ghét mà còn vui vẻ với sự thành công của người khác. San – Keo kiệt, không muốn chia sẻ <> Bố thí – Sẵn lòng giúp đỡ, chia sẻ. Khi bố thí, ta mở lòng, không giữ tâm ích kỷ. Cuống – Giả dối, lừa gạt người khác <> Chân thật – Trung thực, không gian dối. Khi chân thật, ta sống ngay thẳng, không lừa dối ai. Xảo – Dối trá, nịnh hót để được lợi <> Chính trực – Thành thật, không xu nịnh. Khi chính trực, ta sống thật với bản thân và người khác. Hại – Tâm muốn gây tổn hại cho người khác <> Từ bi – Luôn muốn giúp đỡ, không làm hại ai. Khi có từ bi, ta không muốn làm tổn thương bất kỳ ai. Kiêu - Kiêu căng, tự phụ <> Nhún nhường – Khiêm tốn, không xem mình hơn người khác. Khi khiêm tốn, ta biết học hỏi và tôn trọng người khác. Bất tín – Không tin vào nhân quả, Phật pháp <> Tín tâm – Tin tưởng vào con đường thiện lành. Khi có tín tâm, ta đi đúng hướng, không lạc vào tà đạo. 2.2 Phiền não trung bình: Những phiền não này gây chướng ngại lớn trên con đường tu tập. Giải đãi – Lười biếng, không tinh tấn trong tu tập <> Tinh tấn – Siêng năng, cố gắng không ngừng. Khi tinh tấn, ta luôn nỗ lực để hoàn thiện bản thân. Hôn trầm trạo cử <> Chánh niệm – Tỉnh thức, tập trung vào hiện tại. Khi có chánh niệm, ta không lơ đãng mà luôn tỉnh giác. Hôn trầm : Trạng thái tâm uể oải, buồn ngủ khi cần tinh tấn. Trạo cử : Tâm xao động, không thể an định trong thiền định. 2.3 8 Phiền não nặng: Những phiền não này có sức phá hoại lớn, làm con người tạo nghiệp cực xấu. Vô tàm – Không biết xấu hổ khi làm điều sai <> Hổ thẹn – Biết xấu hổ khi làm điều xấu. Khi có hổ thẹn, ta tránh xa điều ác. Vô quý – Không sợ bị người khác chê trách khi làm điều xấu <> Quý trọng – Biết giữ gìn phẩm hạnh. Khi có quý trọng, ta sống đúng đạo đức. Hôn trầm – Mê muội, thiếu sáng suốt. Trạo cử – Bồn chồn, không thể yên tĩnh. Bất chánh tri – Nhận thức sai lầm, không hiểu đúng sự việc. Tán loạn – Tâm không tập trung, nghĩ lung tung <> Định tâm – Tập trung, an trú trong hiện tại. Khi định tâm, ta không bị xao động. Bất tín – Không tin nhân quả, không tin Phật pháp. Giải đãi – Lười biếng, không cố gắng tu tập.
Sửa
Nguyên nhân gốc rễ của sinh tử luân hồi
Vô minh là nguyên nhân gốc rễ của mọi khổ đau, sinh tử luân hồi - Chưa hiểu thực tánh của mọi sự vật hiện tượng là duyên sinh, vô thường, vô ngã.
Sửa
Hình ảnh mang tính ẩn dụ
Cái muôi múc canh - Học lý thuyết mà không thực hành. Chánh niệm như ngon đèn soi sáng con đường trong đêm tối. Đời vốn là một dòng chảy mà ta lại muốn đóng băng dòng sông. Mặt hồ dao động khi ta ném đá xuống. Tâm dao động khi ta dính mắc vào vọng tưởng. Tâm như Chủ, Vọng Tưởng như Khách Chủ nhà là tâm chân thật, thường hằng, thanh tịnh. Khách là các vọng tưởng, cảm xúc, suy nghĩ đến rồi đi. Khi thiền, ta quan sát suy nghĩ đến và đi như khách viếng thăm. Nếu bám víu vào chúng, ta mất đi sự an nhiên. Nếu nhận ra chúng chỉ là khách, ta giữ được tâm thanh tịnh.
Sửa
Tinh tấn
Tinh tấn là sự nỗ lực không ngừng, là sự bền bỉ trên con đường đã chọn, không bị lôi kéo bởi những cám dỗ hay sự mỏi mệt. Tinh tấn không phải là sự cố gắng mù quáng, cũng không phải là ép mình đi nhanh hơn khả năng có thể chịu đựng. Tinh tấn là bước chân kiên định, không bỏ cuộc nhưng cũng không vội vàng. Đó là sự rèn luyện bền bỉ, có chủ đích, có sự tỉnh thức, không bị cuốn vào tham vọng hay sự hấp tấp. Tinh tấn hiện diện trong từng ý niệm, từng suy nghĩ, từng lời nói, từng hành động. Một người tinh tấn không chỉ nỗ lực trong việc làm, mà còn cẩn trọng trong lời nói, giữ tâm ý thanh tịnh, không để bị cuốn theo những vọng tưởng vô định. Tinh tấn không chỉ là sự lặp lại một hành động, mà là sự thực hành có hiểu biết. Nếu chỉ chăm chăm vào hình thức mà không quan sát tâm mình, thì sự tinh tấn ấy chỉ là một thói quen máy móc, không thể mang lại sự chuyển hóa thực sự. Tinh tấn đúng nghĩa là sự kiên trì nhưng vẫn giữ được sự tỉnh thức, không vì quá mong cầu mà đánh mất sự bình an. Tinh tấn không chỉ cố gắng một cách đơn thuần mà còn biết điều chỉnh – biết tiến, biết lùi, biết khi nào cần dừng lại để nhìn rõ con đường phía trước. Đó là một sự tinh tấn bền vững, không phải là sự gắng gượng trong mệt mỏi hay áp lực. Tinh tấn và con đường tu tập Tinh tấn như ý túc giúp con người giữ vững lòng kiên định trong tu tập, không bỏ dở giữa chừng khi đối diện với khó khăn. Tinh tấn không có nghĩa là không gặp khó khăn, mà là biết cách đối diện với khó khăn mà không bỏ cuộc. Có tinh tấn, ta sẽ không để bản thân bị cuốn theo dòng đời một cách vô định, mà sẽ chủ động sắp xếp cuộc sống của mình, dù là trong công việc, học tập hay đối nhân xử thế. Tinh tấn giúp ta duy trì sự cố gắng đều đặn, không để những thất bại tạm thời làm mất đi lòng kiên định. Có những ngày ta cảm thấy chán nản, muốn buông xuôi, nhưng nếu ta nhớ rằng mỗi bước chân nhỏ bé hôm nay sẽ góp phần tạo nên một hành trình dài, ta sẽ không dễ dàng bỏ cuộc. Tinh tấn cũng thể hiện qua sự cố gắng từ bỏ những thói quen không tốt. Tinh tấn không chỉ là chạy về phía trước, mà còn là biết đứng lên sau mỗi lần vấp ngã. Tinh tấn trong lời nói và tâm ý Tinh tấn trong lời nói không có nghĩa là im lặng trong mọi trường hợp. Khi cần nói điều đúng đắn, ta phải đủ can đảm để nói. Khi thấy ai đó làm sai, ta cần khuyên nhủ một cách chân thành. Khi thấy ai đó đau khổ, ta cần dùng lời nói để an ủi, động viên. Tinh tấn trong tâm ý là giữ cho tâm không bị cuốn vào những điều tiêu cực, vọng tưởng, cảm xúc vô định. Khi gặp khó khăn, thay vì chìm trong lo lắng, ta học cách nhìn mọi thứ với sự bình tĩnh. Khi gặp điều không như ý, thay vì than trách, ta học cách chấp nhận và tìm hướng đi mới. Một người tinh tấn trong tâm ý sẽ không để những suy nghĩ tiêu cực chi phối. Họ có thể đối mặt với khó khăn mà không bị đánh bại bởi nó. Họ biết rằng mọi thử thách đều có giá trị riêng, và chỉ cần họ vững vàng bước tiếp thì sớm muộn gì cũng sẽ đến được bến bờ bình an. Tinh tấn là người luôn giữ cho tâm trí sáng suốt, không ngừng học hỏi, không ngừng thực hành những điều thiện lành. Dù có gặp bao nhiêu thử thách, họ vẫn kiên trì bước tiếp. Tinh tấn không có nghĩa là phải lao vào làm thật nhiều việc, mà là duy trì sự cố gắng một cách đều đặn. Tinh tấn không có nghĩa là không gặp khó khăn, mà là biết cách vượt qua những khó khăn ấy để tiếp tục bước đi. Khi ta biết cách giữ vững tinh thần, ta sẽ không còn sợ thất bại mà sẽ xem nó như một phần tự nhiên của hành trình. Tinh tấn là biết rõ điều gì thực sự mang lại lợi ích lâu dài cho mình. Tinh tấn không có nghĩa là từ bỏ mọi thứ trên đời, mà là biết cách không để những thứ bên ngoài chi phối quá nhiều đến mình. Tinh tấn và sự công nhận Tinh tấn không phải là sự cố gắng để được công nhận. Tuy nhiên, trong đời, có những người tin rằng nếu họ tu tập giỏi hơn người khác, nếu họ làm được nhiều điều mà người khác không làm được, họ sẽ được tôn vinh. Họ nghĩ rằng, nếu có thể ngồi thiền lâu hơn, tụng kinh nhiều hơn, họ sẽ chứng tỏ được điều gì đó. Nhưng liệu điều đó có thực sự đưa họ đến sự giải thoát, hay chỉ khiến tâm thêm ràng buộc? Tinh tấn đúng nghĩa cần bắt đầu bằng việc nhìn lại chính mình. Họ không so sánh bản thân với người khác, không mong cầu điều gì từ sự cố gắng của mình, mà chỉ đơn giản là đi trên con đường đúng. Họ không vội vã, cũng không tìm cách thể hiện. Tinh tấn và sự cân bằng Tinh tấn không có nghĩa là gắng sức đến mức kiệt quệ. Nếu một người cố gắng quá mức mà không biết cách giữ gìn sức khỏe, họ sẽ nhanh chóng mất đi động lực và cảm thấy mệt mỏi. Tinh tấn không phải là dành toàn bộ thời gian chỉ để làm một việc, mà là biết cách sắp xếp sao cho mỗi việc đều có sự cân bằng. Khi biết cách điều chỉnh nhịp sống, khi không để bản thân bị kiệt sức, ta sẽ có thể duy trì sự tinh tấn lâu dài mà không cảm thấy áp lực. Tinh tấn phải đi đôi với sự kiên trì bền bỉ, không để tâm vướng vào sự nôn nóng mong cầu. Tinh tấn đúng nghĩa cần phải có sự nhẫn nại. Không thể mong cầu một kết quả ngay lập tức, mà phải hiểu rằng mỗi ngày cố gắng một chút, mỗi ngày tiến lên một chút – dù chậm nhưng chắc chắn. Tinh tấn đúng nghĩa không phải là nỗ lực hết sức trong một lúc rồi dừng lại, mà là giữ cho mình luôn bước đi – dù chậm nhưng không bao giờ dừng. Tinh tấn không phải là làm việc một cách căng thẳng, mà là làm việc với tâm an lạc. Nếu biết cách buông bỏ những mong cầu quá mức, nếu biết trân trọng từng giây phút của công việc, thì dù bận rộn đến đâu, ta vẫn có thể giữ được sự bình an trong lòng.
Sửa
Các câu nói nên tự thoại với bản thân
Không phán xét. Không kỳ vọng. Không dính mắc, bám chấp. Tất cả chỉ là duyên hội tụ và duyên tan chứ không có gì sinh, diệt cả. Không chấp có, không chấp không, không chấp vào điều gì bởi vì thấy rõ rằng mọi sự là duyên khởi, là tạm thời, là không thể nắm giữ. Hạnh phúc đến từ sự tự tại trong tâm. Ngũ uẩn Thân: Có sự đi lại, có việc ăn uống, có bước chân trái đưa lên, có bước chân phải chạm xuống, có sự nhai, có sự nuốt, có sự co tay... Thọ: Có cảm giác vui khởi lên, có cảm giác buồn khởi lên, có cảm giác đau nơi chân, có cảm giác vui, cảm giác vui đang tăng, giảm... có cảm giác thoái mái, có cảm giác dễ chịu... Chỉ quan sát các cảm thọ khởi lên mà không phản ứng (níu kéo - xua đuổi). Tâm: Có suy nghĩ khởi lên, có tâm lo lắng xuất hiện, có sự chú tâm, có sự dao động trong tâm, có sự dính mắc, có tâm sân hận, có tâm tỉnh giác, có tâm luyến tiếc... Pháp: Có sự hiểu biết khởi lên, có sự giác ngộ đang sinh khởi, có sự tu tập đang diễn ra, có chướng ngại xuất hiện, có sự chú ý lắng nghe, có sự nghi ngờ khởi lên, có sự tinh tấn khởi lên... Nếu biết rằng sân hận sẽ dẫn đến khổ đau, ai lại muốn ôm giữ sân hận. Nếu biết rằng tham ái sẽ khiến tâm bất an, ai lại muốn chạy theo tham ái. Nếu quán chiếu như trên thì tự nhiên những điều ác chưa sinh sẽ bị ngăn chặn. Có sự dính mắc, bám chấp, cố chấp... vào sự vật, quan điểm, suy nghĩ trong tâm ta bây giờ không? Người giàu có nhất là người biết đủ. Bình an không phải là không có cảm xúc, mà là không bị dẫn đi bởi cảm xúc. Chân tâm không phải là không có tâm mà không bị tâm chi phối.
Sửa
Đặc điểm con người
Một trong những lý do khiến nhiều người từ bỏ mục tiêu là vì họ muốn thấy kết quả ngay lập tức nhưng con đường tu tập hay bất kỳ sự phát triển nào cũng cần có thời gian. Một người nếu chỉ nhìn vào kết quả mà không tập trung vào quá trình họ sẽ dễ nản chí. Không ai có thể học một điều gì đó trong một ngày mà trở nên giỏi giang. Không ai có thể thay đổi bản thân chỉ sau một lần cố gắng chỉ có tinh tấn từng chút một từng ngày một mới có thể tạo ra sự chuyển hóa thực sự. Con người dễ bị chi phối bởi ngoại cảnh và những cảm xúc nhất thời.
Sửa
Quán thọ
Cảm giác thuộc về thân thể khi thân thể tiếp xúc với thế giới. Cảm giác là một hiện tượng đơn thuần. Cảm xúc thuộc về tâm là phản ứng tâm lý của ta trước một cảm giác, một tình uống, một ký ức hay một dòng suy nghĩ. Cảm xúc luôn mang màu sắc chủ quan. Cảm xúc không nằm ở bên ngoài mà ở nơi cách ta tiếp nhận và phản ứng. Cảm xúc là sự phản ứng phức tạp của tâm. Phần lớn trong ngày con người ta hành động, hay bị chi phối bởi cảm xúc. Cảm xúc là động lực dẫn đường cho hành vi. Phân biệt lạc thọ, khổ thọ thuộc thân hay tâm. *** Cảm xúc và cảm giác không sai chúng là một phần của con người. Nếu ta không thấy rõ chúng, chúng sẽ lái ta đi theo hướng không mong muốn. Chúng ta phải thấy rõ mỗi khi thọ khởi lên: lạc thọ, khổ thọ, xả thọ. Không dính mắc, không chống đối, không đồng hóa. Thấy rõ để không bị cuốn đi, thấy rõ để không bị vướng mắc bởi vì chính nơi không thấy rõ con người mới sinh ra khổ, mới chấp cái vui là thật, mới chống cái khổ như kẻ thù và từ đó trôi lăn theo dòng cảm xúc mà chẳng hề hay biết. Lạc thọ không phải là điều xấu, vấn đề ở chỗ tâm muốn giữ mãi, quán thọ không dạy ta chối bỏ cảm giác dễ chịu, quán thọ dạy ta nhìn sâu vào nó, nhìn mà không vướng víu, nhìn mà không để cho lạc thọ điều khiển hành vi và tâm ý, khổ thọ cũng vậy, xả thọ cũng vậy. Mục tiêu không để lạc làm ta bị lôi kéo, không để khổ làm ta mất bình an, không để xả thọ làm ta lười biếng.
Sửa
Quán pháp
1. Do các yếu tố hợp lại mà thành, luôn thay đổi, không có tự tính. 2. Không cảm xúc, không thêm, không tô vẽ, không đồng hoá, không chống đối, không phản ứng, không suy diễn, không biện minh, không kể đi kể lại, không kỳ vọng, không mong cầu, không cố chấp vào những gì đã biết, không phán xét, không mang ký ức vào, không dự đoán, không thêm câu chuyện. Không phải của mình. 3. Chỉ có thể thấy! ** Quay lại chánh niệm bằng việc quán sát lại thân, thọ, tâm, pháp ngay lúc đó hiện tại.
Sửa
Chiến lược R:R
1. Nếu bạn mới hoặc vẫn đang tinh chỉnh chiến lược: Bắt đầu với R:R cố định, ví dụ 1:2, rồi sau đó từng bước luyện tập quản lý lệnh linh động. 2. Nếu bạn đã có kinh nghiệm, hiểu rõ hành vi thị trường: Có thể kết hợp cả hai: đặt mục tiêu R:R ban đầu, nhưng cho phép dời TP hoặc cắt lỗ sớm nếu thấy dấu hiệu thị trường thay đổi.
Sửa
Luyện tập
Luyện tập một phương pháp giao dịch cho thành thục đến mức thành thói quen vô thức chính là chìa khóa để thành công. Không ai có thể chạy trước khi biết đi, dù là người giỏi nhất thế giới. Cũng vậy, dù bạn là ai, muốn đạt được kết quả xuất sắc, bạn phải trải qua quá trình rèn luyện không ngừng, cho đến khi mọi thứ trở thành bản năng.
Sửa
Học tập từ những sai lầm, thua lỗ
Mỗi ngày, hãy dành thời gian ghi chép hoặc ghi nhớ những sai lầm trong giao dịch của mình. Hãy phân tích kỹ lưỡng những sai lầm đó, đặc biệt là những lỗi lặp đi lặp lại gây thua lỗ, và nỗ lực loại bỏ chúng trong những lần giao dịch tiếp theo. Lịch sử đã chứng minh rằng, tất cả các nhà giao dịch xuất sắc đều đạt được thành công nhờ vào những thất bại, sai lầm, và thậm chí là việc cháy tài khoản. Tuy nhiên, điểm chung duy nhất giữa họ là luôn biết phân tích và rút ra bài học từ những sai lầm để không bao giờ lặp lại chúng. Một thực tế không thể phủ nhận là: càng học hỏi nhiều, nhưng nếu không hiểu sâu sắc bản chất vấn đề, thì trader sẽ càng kéo dài thời gian đối mặt với thua lỗ.
Sửa
Tham - Sân - Si
1. Tâm sân thường là phản ứng đối với những gì khiến ta khó chịu, tổn thương, thất vọng hoặc tổn hại. Đặc điểm: Chống đối, phản kháng: Tâm sân không chỉ đơn thuần là giận dữ, mà sâu xa là một ý muốn đẩy lùi, phủ nhận, khước từ hoặc hủy hoại đối tượng mà mình không thích. Không chấp nhận sự thật đang diễn ra: Khi bạn sân, bạn đang không đồng ý với thực tại – có thể là con người, sự việc, cảm giác, hoàn cảnh, ... Phát sinh: Từ khổ thọ hoặc bất như ý. 2. Tâm tham bản chất Là trạng thái muốn có, muốn giữ, không buông, không muốn mất. Đặc điểm: Tác động Làm tâm trói buộc vào đối tượng dễ chịu, khiến ta mất tự do. Phát sinh: Khởi sinh khi đối tượng đem lại lạc thọ (cảm giác dễ chịu, thích thú). 3. Tâm si bản chất là vô minh, che lấp trí tuệ, khiến tâm không biết rõ thực tại, không hiểu rõ bản chất của thực tại. Đặc điểm: Chức năng Làm tâm hoang mang, lờ mờ, không định hướng, dễ bị dẫn dắt sai lầm. Phát sinh: Khởi sinh khi không có tuệ giác, không thấy rõ nhân – quả, không có chánh niện.
Sửa
Trading + Hệ thống + Kỷ luật
Mỗi ngày chỉ chọn lọc từ một đến ba cơ hội rõ ràng để vào lệnh. Nếu không có tín hiệu đẹp, sẵn sàng đứng ngoài thị trường. Giao dịch không cần nhiều mà cần đúng. Trading: Trading không phải là cuộc đua tốc độ, mà là cuộc đua sức bền. Trading là cuộc chơi của riêng bạn, là hành trình mà bạn và chỉ bạn phải chịu trách nhiệm từ đầu đến cuối, không ai có thể cứu bạn, không nhóm nào đảm bảo lãi đều, không có tín hiệu nào là thần thánh và đặc biệt không ai đau khi bạn mất tiền ngoài chính bạn. Trading đau nhất không phải là thua lệnh mà là thua chính kỷ luật của bản thân - tự mình phá vỡ hệ thống của bản thân. Trading không phải cuộc chạy nước rút mà nó là một cuộc chạy marathon và ai sống sót lâu hơn người đó sẽ thắng. Trading là một hành trình của sự trung thực, trung thực với cảm xúc, trung thực với hành vi, trung thực với sai lầm và trung thực với sự thật rằng nếu bạn không thay đổi thì thị trường sẽ tiếp tục lấy tiền của bạn như nó vẫn luôn làm với những người không chịu học. Trading là một hành trình gian nan, thử thách bạn ở mức độ sâu sắc và tàn khốc nhất. Trading là việc kiểm soát hành vi. Trading là trò chơi của chuỗi lệnh không phải từng lệnh. Trading giống xác suất, bạn thắng vì cả chuỗi hành vi hợp lý chứ không phải vì một cú đoán đúng. Trading giống như đi trên dây giữa hai tòa nhà chọc trời. Hình dung mà xem, gió lồng lộng, không khí loãng từng bước chân là từng lần tim đập mạnh. Dưới chân bạn là khoảng không, sâu hun hút, lạnh lẽo và không khoan nhượng. Trong hoàn cảnh ấy, nếu bạn có một tấm lưới an toàn răng bên dưới, bạn sẽ bước đi vững vàng hơn. Có thể không tự tin ngay lập tức, nhưng ít nhất bạn biết nếu trượt chân, bạn còn có cơ hội sống sót. Còn nếu không có, chỉ một cú trượt nhẹ cũng đủ khiến bạn rơi không phanh. Trong thế giới trading, dừng lỗ chính là tấm lưới an toàn ấy. Dừng lỗ không phải để ngăn bạn thắng. Nó không phải là kẻ thủ. Nó là người bạn âm thầm bảo vệ bạn trong những thời khắc tồi tệ nhất. Trading là chuyện của sự lặp lại hợp lý, không phải chiến thắng rực rỡ, không phải đoán đúng thị trường, không phải linh cảm trúng đỉnh. Nếu bạn chưa chấp nhận được thua liên tục mà không phá hệ thống thì bạn chưa thực sự bước ra khỏi giai đoạn ba. Trading không phải là trò chơi của sự tức giận, nó là bài kiểm tra của kỷ luật và kiên nhẫn. Trading không đòi hỏi bạn phải đúng mọi lúc. Nó chỉ yêu cầu khi sai hãy biết sai nhỏ. Dừng lỗ chính là công cụ giúp bạn làm điều đó. Trading không cần bạn tin vào hy vọng. Trading cần bạn tin vào nguyên tắc. Và dừng lỗ. Đơn giản là nguyên tắc bảo vệ bạn khỏi những điều không chắc chắn. Nó không phải là sự thua cuộc. Nó là quyền rút lui để chiến đấu tiếp. Trading không diễn ra trong chân không, nó phản ánh cuộc sống và nội tâm của bạn. Bạn càng mệt mỏi, càng dễ vào lệnh lung tung. Bạn càng áp lực tài chính, càng dễ overtrade. Bạn càng sợ bị bỏ lỡ cơ hội, càng dễ rơi vào hội chứng FOMO. Trading không phải là hành trình chỉ để chiến thắng thị trường, đó là hành trình để hiểu chính bản thân mình. Trading là bớt tỏ ra nguy hiểm vì chẳng ai dám chắc tiếp theo giá sẽ đi đâu > KHIÊM TỐN. Trading là phải chờ cơ hội tốt > KIÊN NHẪN. Trading là phải chấp nhận thua, chấp nhận stoploss, xem stoploss như điều bình thường phải có > KHIÊM DUNG. Trading là đi theo dấu hiệu thị trường chứ không đi theo suy nghĩ chủ quan > BỎ BẢN NGÃ. Trading là chỉ vào lệnh và tìm kiếm lợi nhuận khi system cho phép, giá chạy đâu kệ nó > KHÔNG THAM. Trading là vào lệnh khi system cho tín hiệu bất chấp người khác nói gì > KHÔNG SỢ. Trong trading, cái giá của một lần đánh mất không chỉ là tiền mà đôi khi là toàn bộ cơ hội để quay trở lại với thị trường. Trong trading có một sự thật buồn, thị trường không quan tâm bạn tin gì. Nó không biết bạn phân tích kỹ đến đâu, học bao nhiêu khóa, đọc bao nhiêu sách, dành bao nhiêu đêm không ngủ. Nó chỉ di chuyển theo cách của riêng nó. Và bạn người chơi nhỏ bé trước cơn sóng khổng lồ ấy chỉ có thể tồn tại nếu bạn biết mình có thể mất bao nhiêu. Dừng lỗ chính là giới hạn đó. Nó là ranh giới giúp bạn biết khi nào nên dừng, khi nào nên đứng lại. Hệ thống - SETUP: Không có hệ thống giao dịch bạn chỉ là con mồi đi lạc. Chỉ tập trung tìm lệnh có xác suất cao, quản lý rủi ro tốt và đặt việc bảo vệ vốn lên hàng đầu. Hãy tự hỏi bản thân là mình sai ở đâu trong hệ thống của mình. Hãy hiểu rõ lệnh thắng vì sao. Lệnh thua vì sao, từ lệnh thua học được bài học gì. Bạn có thể luyện một setup, một logic, một công cụ cả trăm lệnh. Nhưng chỉ cần hai ba lệnh phá luật mà lại lời là hệ thống bị phá vỡ. Và lúc bạn muốn quay lại hệ thống, bạn sẽ không còn tin nó nữa. Không đoán, không tin cảm giác, không tìm chén thánh. Chỉ đơn giản chờ đủ tín hiệu, đặt lệnh quản trị vốn, chấp nhận sai, giữ hệ thống. Bạn không cần đúng mỗi lệnh, bạn chỉ cần không phản bội hệ thống sau mỗi cú thua. Dù có chuyện gì sảy ra thì hãy tuân theo quy tắc giao dịch mà bạn đã đặt ra dù bất kể điều gì. Tâm lý sợ mất cơ hội dẫn đến không kiên nhẫn chờ => Vị thế + kết quả không tốt. Những nguyên tắc cơ bản được lặp đi lặp lại cho đến khi trở thành phản xạ tự nhiên. Phản ứng tự động và không đi kèm với cảm xúc khi giao dịch là nhiệm vụ của chúng ta. Thật khó để biết thị trường định làm gì, còn nếu bạn không biết bạn định làm gì, thì bạn đã thua. Bạn không thể để thị trường chỉ huy bạn. Không ra quyết định trong giờ giao dịch. Lên kế hoạch một giao dịch, và giao dịch theo một kế hoạch và không cần quan tâm đến kết quả khi đã có phương pháp giao dịch. Không có chén thánh. không có công thức bất bại. Kết quả của giao dịch hiện tại không phụ thuộc vào kết quả của các giao dịch trước đó. Không phải bạn chưa tìm thấy hệ thống mà là bạn chưa ở lại đủ lâu với một hệ thống để nó thực sự trở thành của bạn. Lúc này bạn không còn hỏi cái nào win tốt hơn, bạn hỏi cái nào hợp với mình hơn, cái nào mình hiểu thật sự, cái nào mình làm được ngày này qua ngày khác dù thắng hay thua, bạn bắt đầu chọn một hệ thống đơn giản, không màu mẻ, không chén thánh, không cần bảy chỉ báo chồng chéo, chỉ là vài nguyên tắc rõ ràng, vài mẫu nến quen thuộc, vài vùng giá bạn hiểu. Bạn nhận ra không phải hệ thống nào cũng thắng mọi thời điểm, nhưng nếu bạn hiểu nó, bạn sẽ biết khi nào nên dùng và khi nào nên dừng. Không có hệ thống nào chống lại được sự thiếu kiên nhẫn. Bạn biết phải quản lý vốn, bạn biết phải giữ kỷ luật, bạn biết stop loss không phải là kẻ thủ nhưng à bạn vẫn dính, bạn vẫn tăng volume khi thua, bạn vẫn tiếc lệnh vừa âm, bạn vẫn hy vọng lệnh này sẽ kéo mình lên. Tại sao? Vì bạn vẫn nghĩ trading là chuyện thắng từng lệnh. Bạn không chấp nhận chuyện thua liên tiếp là bình thường. Thị trường không có cảm xúc, chỉ có bạn đang gán cảm xúc lên biểu đồ. Hãy làm việc như một người thống kể. Một nhà khoa học. Bạn vào lệnh vì hệ thống nói có tín hiệu, không phải vì bạn muốn thắng. Bạn cắt lỗ vì nguyên tắc quản trị vốn yêu cầu, không phải vì bạn sợ hãi. Thật khó để bạn có thể giao dịch liên tiếp, thực hiện các lệnh giao dịch liên tiếp đúng theo phương pháp giao dịch mà lệnh ngay trước đó của bạn bị thua lỗ. Cách thức mà McDoglass ông ấy đã đưa ra đó là bạn phải chuyển đổi niềm tin của bạn. Đó là từ việc quan tâm tới kết quả của từng lệnh giao dịch liêng lẻ. Bạn chuyển sang việc bạn quan tâm tới kết quả của một chuỗi các giao dịch. Khi bạn chuyển đổi được kỳ vọng của bạn sang một chuỗi các giao dịch, khi này bạn có thể vào và thoát lệnh mà không lo sợ, không sợ hãi hay thất vọng. Kỷ luật - Tâm lý: Rèn luyện tâm lý chính là rèn luyện kỷ luật. Kỷ luật mới là phương pháp sống còn trong trading. Thị trường chỉ cần bạn mất kỷ luật một lần là lấy lại tất cả. Kỷ luật không đảm bảo bạn thắng nhưng không có kỷ luật chắc chắn bạn sẽ thua. Lợi nhuận đến từ kỷ luật và dừng lỗ chính là hình ảnh rõ ràng nhất của kỷ luật. Nó là lúc bạn chấp nhận mình đã sai để bảo vệ điều quan trọng hơn vốn và sự minh mẫn. Nó là lúc bạn ngừng đào hố sâu trước khi quá muộn. Kiên nhẫn để chờ setup và làm chủ cảm xúc sau mỗi giao dịch thua. Khi bạn đang thua rất muốn gỡ lại nhưng lý trí buộc bạn phải dừng. Khi bạn nhìn thấy một lệnh đỏ, tài khoản âm nhưng vẫn phải giữ bình tĩnh đến lạnh người. Kiến thức giúp bạn biết phải làm gì, nhưng tâm lý mới là thứ quyết định bạn có làm được hay không. Muốn thắng thị trường trước hết bạn phải chiến thắng chính bản thân mình. Trader chuyên nghiệp là người học từng vết đau. Trader bình thường là người tìm cách quên đi vết đau đó càng nhanh càng tốt. Khi mọi người xung quanh đều nghi ngờ bạn và cuối cùng bạn nhận ra chỉ còn duy nhất một người bạn cần phải tin đó là chính mình. Càng cố gỡ ta sẽ càng trượt sâu hơn. Dừng lỗ không chỉ là giới hạn thua lỗ. Nó là một hệ thống phòng thủ nội tâm là lời nhắc bạn có thể sai và bạn nên chuẩn bị cho điều đó. Nhưng khi cái tôi lớn hơn thực lực, khi chiến thắng liên tiếp khiến ta nghĩ mình bất bại thì sự chủ quan bắt đầu xâm chiếm và nó không đến như một cú sét mà như cơn mưa giả rích, âm thầm nhưng ăn mòn tất cả. Có một sự thật mà rất ít người mới bước vào thị trường muốn nghe. Dừng lỗ không phải là thất bại. Nhưng tôi hiểu, tôi thực sự hiểu cảm giác khi đặt một lệnh rồi chủ động chấp nhận thua. Nó đau. Nó như tự nhận rằng mình đã sai, như buông tay giữa chừng, như chưa kịp chiến đấu đã vội tháo lui. Nó đi ngược lại với bản năng của con người. Bản năng muốn đúng, muốn chiến thắng, muốn giữ thể diện với chính mình. Dừng lỗ giúp anh giữ lại sự tỉnh táo mà trong trading tỉnh táo là tài sản quý nhất. Mất vốn, mất sự tỉnh táo, mất kỷ luật. Mọi thứ khác cũng theo đó mà mất. Dừng lỗ không phải là một điểm giá, nó là một triết lý sống sót trong thị trường. Đặt dừng lỗ là hành động của người trưởng thành trong thị trường. Nó không nói lên bạn giỏi hay dở. Nó chỉ cho thấy bạn có ý thức bảo vệ chính mình. Trong thế giới đầy biến động này, có lẽ điều chắc chắn duy nhất là nếu bạn không đặt dừng lỗ, sẽ có ngày bạn phải trả giá. Giá không phải bằng một lệnh thua mà là bằng tài khoản, sự tự tin, tinh thần. Bạn có thể tỉnh táo cả ngày, nhưng chỉ cần một khoảnh khắc mất tập trung, tài khoản của bạn có thể mất trắng. Luôn luôn giữ đầu óc thật tỉnh táo khi vào thị trường, chỉ cần mất kỷ luật một lần có thể khiến bạn cháy tài khoản. Tỉnh rồi nhưng vẫn trade sai vì bạn chưa có hệ thống hành vi, chỉ có nhận thức. Đây là giai đoạn đặc biệt đau không phải vì bạn còn mù mà vì bạn đã thấy được lỗi sai nhưng vẫn lặp lại nó. Nhận thức là khi bạn biết điều đúng, hành vi là khi bạn làm điều đúng dù không có ai nhìn. Nhận thức là kiến thức, hành vi là kỷ luật. Làm được mới là hiểu thật. Một trader sống sót không hơn bạn ở chỗ họ thông minh hơn. Họ hơn bạn ở chỗ, họ đã lặp đi lặp lại một hệ thống đủ lâu đến khi nó trở thành phản xạ. Trader chuyên nghiệp không cần nhiều lệnh, họ cần ít lệnh nhưng chắc. Họ chờ và họ dám đứng ngoài khi thị trường không cho cơ hội. Vì họ hiểu cái giá của sự hấp tấp là toàn bộ tài khoản, còn cái lợi của sự chờ đợi là sự sống còn. Bạn cần học cách nhìn thị trường mà không bị kéo vào. Quan sát hành vi sai của chính mình sau mỗi lệnh thắng, thua và sửa từng chút một. Giao dịch là việc cần có thời gian. Các lệnh thua là một phần của công việc giao dịch. Kỷ luật giao dịch dựa vào thói quen thay vì ý chí. Con đường chậm chạp là con đường nhanh nhất. Đừng bao giờ trả thù thị trường. Điều 1, sự đa dạng về ý định của những nhà giao dịch khác. Những người đang chuẩn bị gửi lệnh mua và bán vào dòng rảy của thị trường có thể sẽ gây ra bất cứ điều gì. Vì vậy, tôi không biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. Điều 2, kết quả của mỗi giao dịch là duy nhất, không có cách nào có thể biết được dù cho mô hình hiện tại có giống với mô hình xuất hiện trong quá khứ như thế nào đi chăng nữa. Điều 3, tôi sẽ thực hiện tín hiệu mà lợi thế của tôi yêu cầu và đặt mình vào tình thế có thể thắng và thu lợi nhuận hoặc tôi sẽ phải trả các chi phí. Tôi sẽ hành động mà không có sự e dè hay do dự. Điều 4, tôi có một phương pháp giao dịch cho tôi một lợi thế và tôi sẽ có lợi nhuận sau một chuỗi các giao dịch thay vì một giao dịch riêng lẻ. Lưu ý: Thành công có công thức, thất bại có nguyên nhân. Đừng lấy tiền làm mục tiêu đầu tiên, hãy lấy hanh vi đúng làm mục tiêu đầu tiên. Hãy biết điểm dừng. Dừng khi lời đạt mục tiêu, dừng khi lỗ 10% tài khoản một ngày. Dùng vốn nhỏ làm công cụ để học, luyện nghề, luyện tâm, luyện kỷ luật. Sau khi đã sẵn sàng thì sử dụng vốn lớn để kiếm lời. Thị trường không phải một nơi để tìm may mắn, nó là một bầy sói, chúng không cần quá thông minh. Chỉ cần bạn chủ quan, chỉ cần bạn tự tin quá mức là bạn tự đưa cổ mình vào miệng chúng rồi. Thị trường là nơi kiểm tra lòng kiêu hãnh và ai ngạo mạn sẽ sớm bị đưa về vạch xuất phát. Thị trường không lấy tiền của bạn vì bạn thiếu kiến thức mà vì bạn thiếu sự kiểm soát bản thân. Mỗi lần bạn không kỷ luật, thị trường sẽ nhắc nhở bạn bằng tiền. Bạn càng thiếu kỷ luật bao nhiêu, bài học càng đắt bấy nhiêu. Bạn càng cố chối bỏ sai lầm, thị trường càng trừng phạt lâu dài. Thị trường luôn còn đó, chỉ có bạn là không còn. Tôi đã chứng kiến quá nhiều người giỏi, quá nhiều người biết phân tích kỹ thuật nhưng vẫn bị nuốt sạch. Không phải vì họ thiếu kiến thức mà vì họ không làm chủ được lòng tham và sự nôn nóng của mình. Họ muốn thắng nhanh, giàu nhanh, rút vốn nhanh và họ bị cuốn đi như rác trôi giữa cơn sóng. Bạn càng muốn nhanh nhanh, thị trường càng bắt bạn chậm lại. Không có entry nào là gấp, không có cơ hội nào là có 102. Đừng để foro dắt mũi bạn. Đừng để mỗi cây nến khiến tim bạn loạn nhịp. Mỗi nhịp giá chạy không phải là lời mời. Nó là cái bẫy thử lòng. Ờ nếu bạn không luyện được sự kiên nhẫn, bạn mãi mãi không đủ tư cách để tồn tại trong cuộc chơi này. Thị trường không có nghĩa vụ trả lương cho bạn. Nó không quan tâm bạn cần tiền mua xe, đóng đóng học phí hay nuôi gia đình. Nó chỉ trả tiền cho người xứng đáng và chỉ lấy tiền của kẻ thiếu kỷ luật. Tôi từng nghĩ phải kiếm tiền mỗi ngày, phải có lệnh mỗi ngày, phải thắng mỗi tuần. Nhưng rồi tôi nhận ra càng cố kiếm đều càng mất sạch. Bạn không thể làm chủ thị trường, bạn chỉ có thể làm chủ chính mình. Và đó là cái duy nhất bạn nên tập trung vào. Bạn phải dẹp bỏ cái tư duy không vào lệnh thì sợ mất cơ hội. Không có cơ hội nào là cuối cùng cả. Cái cuối cùng là tài khoản của bạn. Thị trường là chiến trường tâm lý. Khi ta chuyên sâu một thị trường, ta đọc được nhịp thở của nó và đó là một lợi thế lớn. Tư duy dài hạn - Trader không sống bằng một lệnh thắng. Họ sống nhờ sự ổn định qua hàng trăm lệnh. Một người giỏi không phải là người thắng đậm với một lệnh, mà là người kiếm được đều dù ít trong thời gian dài. Trader giỏi không hơn bạn ở chỗ họ win nhiều hơn. Họ hơn bạn ở chỗ họ không gắn danh tính của mình vào từng lệnh. Thua một lệnh họ không suy sụp, thắng một lệnh họ không ngạo mạn. Họ chỉ hỏi tôi có làm đúng quy trình không? Tôi có phá hệ thống không? Tôi có giữ được tâm trí mình ở trạng thái tỉnh thức không? Trader mới thường chết ở cái tưởng là nhỏ nhất. chở không chờ được entry đẹp, không chờ được xác nhận xu hướng, không chờ được cú nến đóng khung, không chờ được chính bản thân mình tỉnh táo lại. Trader sống được không phải là người không thua mà là người không thông để một lần thua trở thành lý do gục ngã mãi mãi. Bạn có từng rơi vào trạng thái ấy chưa? Bạn mở lệnh thấy thua rồi muốn vào thêm để lấy lại những gì đã mất. Bạn nghĩ rằng nếu tăng khối lượng chỉ cần một cú đảo chiều, bạn sẽ quay lại vị trí ban đầu. Thế nhưng thị trường không phải là nơi để ta gỡ gạc. Nó không quan tâm bạn vừa mất bao nhiêu, không quan tâm bạn có đau hay không. Nó chỉ di chuyển theo quy luật riêng, lạnh lùng và vô cảm. Hai từ giá như trong trading đó luôn là hai từ đến muộn. Nó không thể thay đổi quá khứ, chỉ có thể để lại nỗi tiếc nuối. Mỗi lần giá như lại khắc thêm một vết sẹo trong tâm trí. Mỗi vết sẹo lại khiến bạn sợ hãi hơn khi vào lệnh. Rồi bạn bắt đầu trade mà không còn tự tin. Rồi bạn dần không tin vào chiến lược của mình nữa. Và cuối cùng bạn từ bỏ. Người giỏi không phải là người không sai mà là người không để một sai lầm xảy ra hai lần. Hãy nhớ, không ai thành công trong trading bằng cách lặp lại những sai lầm cũ, nhưng ai cũng có thể thay đổi. Sự trưởng thành trong trading không đến từ những lần thắng. Nó đến từ việc bạn dám ngồi lại nhìn thẳng vào sai lầm. và học cách không lặp lại. Rất nhiều trader không học được gì từ lần sai trước vì họ không dám nhìn lại. Họ để thời gian xóa nhòa cảm xúc. Họ để giá như trôi qua trong lặng lẽ, không ghi chép, không chiêm nghiệm, không thay đổi. Người giỏi hơn bạn vì họ biết học từ mỗi sai lầm. Họ không chỉ ghi lại giá vào, giá ra, lý do và lệnh. Họ ghi lại cảm xúc của mình lúc đó. Trạng thái tâm trí, những suy nghĩ đã khiến họ quyết định như vậy. Một giao dịch không quyết định hiệu suất của bạn. Sai lầm là đánh giá không dựa theo KẾT QUẢ DÀI HẠN mà là dựa theo KẾT QUẢ GẦN NHẤT. Thắng cũng có thể giết bạn nếu bạn thắng sai cách. Thắng sai cách, sai tư duy, sai hệ thống còn nguy hiểm hơn cả một lệnh thua. Thắng sai cách làm bạn bắt đầu ảo tưởng, bạn tưởng mình hiểu thị trường, bạn tưởng mình có khiếu, bạn tưởng hệ thống của bạn hiệu quả... và rồi cháy tài khoản. Một lệnh thắng sai cách giống như một liều thuốc gây nghiện. Bạn sẽ muốn lặp lại, bạn sẽ bắt đầu bỏ qua kỷ luật. Vào lệnh khi cầu may - nó thấm chậm không màu, không mùi. Nhưng đến lúc nó giết thì bạn không còn gì để chống đỡ. Vì khi nó giết nó không chỉ lấy tiền, nó lấy luôn niềm tin bạn từng có vào hệ thống. Lợi nhuận một vài lệnh không chứng minh bạn đúng, chỉ kỷ luật mới làm được điều đó, độ bền, độ ổn định lợi nhuận mới chứng tỏ bạn đúng. Rủi ro đến từ việc bạn không biết mình đang làm gì. Những người không học hỏi từ quá khứ sẽ lặp lại chúng. Nhanh, chậm cuối cùng cũng tới đích - Sợ nhất đi lầm đường. Không có bí mật nào trên thị trường. Chỉ là dự đoán với tỷ lệ thành công cao hay thấp - xác suất. Bản chất của nghề trading chính là đầu tư. Vấn đề là khi bạn tham gia vào thị trường giao dịch đại đa số lại thích sử dụng trading là một công cụ kiếm tiền nhanh. Nhanh thì đi kèm rủi ro cao, những Huyền Thoại đầu tư người ta lãi dòng 15-20% trên năm, nhưng đại đa số rất nhiều người lại muốn số lãi đó theo ngày, và kết quả là thua rất nhiều tiền. Bản chất tiền đó cũng sẽ không mất đi nó được chuyển từ túi người thiếu tính kiên nhẫn sang người có tính kiên nhẫn. Mọi thứ là do bạn chọn, lựa chọn đúng bạn sẽ có phần thưởng xứng đáng vì thế hãy tham gia với tư duy của một nhà đầu tư khi trading kiếm lãi thật ít chậm nhưng bền chắc thì bạn sẽ kiếm rất nhiều tiền của những người nóng vội. Một trong những sai lầm phổ biến của nhiều nhà đầu tư là sự thiếu kiên nhẫn và hay thay đổi phương pháp giao dịch. Những người này thường dễ dàng bị ảnh hưởng bởi thông tin xung quanh, thay đổi chiến lược khi gặp khó khăn thay vì kiên trì và đánh giá lâu dài. Họ không nhận ra rằng một hệ thống giao dịch cần thời gian để phát huy hiệu quả, và nếu không bám sát nó đủ lâu, họ sẽ mãi luần quần trong việc tìm kiếm phương pháp mới khi gặp thử thách. Điều quan trọng cần nhớ là không có chiến lược nào luôn thành công trong mọi điều kiện thị trường. Chìa khóa là kiên định với phương pháp mình chọn, nhận diện những thời điểm không phù hợp và tìm cách khắc phục. Đừng để mình bị dao động bởi ý kiến bên ngoài, hãy tin tưởng vào chiến lược cá nhân, ghi chép lại những gì học được từ mỗi giao dịch và từ đó điều chỉnh, rút kinh nghiệm cho những lần tiếp theo. Bạn muốn trở thành trader thật sự, hãy từ bỏ kỳ vọng. Lệnh này phải win. Mỗi lệnh chỉ là một viên đá nhỏ trong cây cầu lớn. Cầu có vững hay không không nằm ở một viên đá. Nó nằm ở việc bạn đặt đều, thẳng và đúng lực từng bước một. Nếu bạn dồn tất cả tâm trí vào lệnh này, nếu bạn đặt cược cảm xúc vào từng cây nến, nếu bạn gồng hết hy vọng vào mỗi cú vào lệnh thì bạn đang chơi cờ bạc chứ không phải giao dịch. Điều nguy hiểm là bạn không hề biết vì sao mình thắng hay thua. Phần đa thua vì ảo tưởng sức mạnh bản thân. Vòng lặp thất bại: Thua, tăng lót, gỡ, cháy, tự nghi ngờ, dừng, quay lại, lặp lại. Giao dịch không phải là cuộc chiến thắng bại theo từng lệnh. Mỗi lệnh chỉ là một phần nhỏ trong chuỗi thống kê dài hạn. Hãy luôn ghi nhớ, bạn có thể thua năm lệnh liên tiếp mà không vi phạm bất kỳ nguyên tắc nào. Giao dịch là nghệ thuật kiểm soát chính mình khi mọi thứ mất kiểm soát. Nếu bạn chưa thể ngồi yên suốt một tuần mà không giao dịch, bạn chưa sẵn sàng. Nếu bạn cảm thấy bứt dứt khi thị trường chạy mà mình đứng ngoài, bạn còn yếu. Và nếu bạn còn lấy giao dịch để chứng minh điều gì đó cho người khác, bạn chưa hiểu bản chất cuộc chơi này. Thị trường là nơi kiểm tra bạn mỗi ngày không chỉ kỹ năng mà là kiểm tra cái tâm. Bạn càng hấp tấp, nó càng giết bạn nhẹ nhàng, không cần cảnh báo. Một lệnh âm, hai lệnh thua, bạn còn đứng được. Nhưng khi chính sự tự tin của bạn bị đập vỡ, bạn sẽ hoảng loạn và lúc đó bạn bắt đầu đánh mất bản thân chứ không chỉ là tiền. Ai cũng nghĩ mình khác biệt khi mới bắt đầu. Ai cũng nghĩ mình sẽ làm được điều mà số đông không làm được. Không Không vào lệnh khi đầu chỉ nghĩ đến lợi nhuận. Không trade theo cảm tính, cảm xúc, cầu may, ngẫu hứng. Không để cảm xúc điều khiển hành vi. Không trade khi không có HỆ THỐNG - SETUP. Không trade khi không có SL, TP. Không giả vờ là một nhà giao dịch mà hành vi như một con bạc. Không nhấn lệnh vì tìm cảm giác. Không gọi là Entry khi vào lệnh bừa bãi. Không gọi là đang giữ lệnh khi bạn không dám cắt lệnh. Không gọi là quán lý vốn khi bạn đang gồng lệnh để mong cầu giá quay đầu.
Sửa
Quy tắc xác nhận điểm vào lệnh.
Chúng ta nên sử dụng cấu trúc để làm điểm xác nhận thay vì sử dụng nến - Tìm phá vỡ cấu trúc trong khung thời gian nhỏ hơn (Tỉ lệ khung thời gian vào lệnh và khung nhỏ phải hợp lý). Chỉ sử dụng nến sau khi Stop hunt đã hoàn thành. *** Đảm bảo tỉ lệ thắng cao hơn.
Sửa
Mark Doulgas
Tâm Lý Trong Giao Dịch: Bí Quyết Để Đạt Được Sự Nhất Quán Phần 1: Tầm Quan Trọng Của Tâm Lý Giao Dịch Phương pháp giao dịch hay các phương pháp phân tích kỹ thuật chỉ cung cấp cho chúng ta một lợi thế. Lợi thế này giúp xác định các tín hiệu giao dịch, mẫu hình giao dịch, điểm vào lệnh, điểm thoát lệnh và mức rủi ro cho mỗi lệnh. Có rất nhiều phương pháp giao dịch được chia sẻ rộng rãi đều có lợi nhuận. Tuy nhiên, khi áp dụng vào thực tế, nhiều trader lại không đạt được hiệu quả như mong đợi. Phản ứng thông thường là nghĩ rằng phương pháp đó không phù hợp và tìm kiếm một phương pháp khác. Nhưng sự thật không phải vậy. Nguyên nhân chính là do bạn chưa đạt đến một tâm lý đúng đắn trong quá trình giao dịch. Hãy xem xét một ví dụ từ thể thao: Một vận động viên chuyên nghiệp có thể thực hiện cú ném phạt thành công vô số lần liên tiếp trong tập luyện. Đơn giản vì họ đã luyện tập đến mức hình thành phản xạ tự nhiên giữa cơ bắp và não bộ. Nhưng trong một tình huống quyết định, khi cú phạt đó ảnh hưởng đến cuộc sống của họ - hoặc trở thành người hùng hoặc trở thành tội đồ - yếu tố tâm lý sẽ tác động mạnh mẽ. Giao dịch cũng tương tự. Khi một lệnh giao dịch bị thua lỗ, tâm lý bị ảnh hưởng nghiêm trọng và dẫn đến hành động theo cảm tính. Dù bạn đã luyện tập trên tài khoản demo bao lâu đi nữa, khi giao dịch với tiền thật, mức độ tâm lý sẽ bị ảnh hưởng rất lớn. Nó che mờ nhận thức về thông tin thị trường và khiến bạn ra quyết định sai lầm. Phần 2: Đạt Đến Sự Nhất Quán Trong Giao Dịch Trước khi đạt đến sự nhất quán: 1. Giao dịch theo cảm hứng hoặc cảm xúc 2. Thay đổi chiến lược liên tục sau một vài lệnh thua 3. Mất niềm tin vào hệ thống giao dịch 4. Bị cuốn vào kết quả ngắn hạn thay vì nhìn tổng thể dài hạn Khi đạt đến sự nhất quán: 1. Tuân thủ kế hoạch giao dịch một cách kỷ luật 2. Chấp nhận rủi ro như một phần tự nhiên của quá trình 3. Duy trì hiệu suất ổn định, dù thắng hay thua 4. Tin tưởng vào quá trình thay vì kỳ vọng kết quả tức thì Làm sao để nhất quán trong giao dịch? Câu trả lời là: Cần hiểu đúng về bản chất của giao dịch. Điều này đạt được khi bạn thực sự hiểu đúng bản chất của giao dịch, hoặc khi đã mất quá nhiều tiền và sẵn sàng làm bất cứ điều gì để thay đổi. Phần 3: Hai Cấp Độ Giao Dịch Cấp độ cơ học Ở cấp độ này, bạn có một phương pháp giao dịch đơn giản chỉ dẫn bạn khi nào mua, khi nào bán, và khi nào thoát lệnh. Bạn cần luyện tập để thực hiện đúng theo những gì phương pháp yêu cầu - không cần suy nghĩ, không thắc mắc, không sợ hãi. Bạn chỉ kỳ vọng vào kết quả của một chuỗi giao dịch, không phải từng giao dịch riêng lẻ. Cấp độ chủ quan Đây là cấp độ cao hơn - giao dịch theo chủ quan hay giao dịch tùy ý. Nó dựa trên thông tin thị trường cung cấp, không có tín hiệu cứng nhắc mà là cảm nhận về thị trường. Giống như một cuộc đua xe ô tô, nơi các tay đua cảm nhận môi trường xung quanh và đưa ra quyết định. Bạn phải đánh giá tình hình tại thời điểm hiện tại và tương tác với nhiều thông tin để đưa ra quyết định. Cả hai cấp độ đều có thể giúp bạn thành công. Ở cấp độ cơ học, bạn cần một mức độ tâm lý và kỷ luật cao để tuân thủ các nguyên tắc. Ở cấp độ chủ quan, bạn cần sự tập trung cao độ, ra quyết định nhanh chóng và tâm trí mạnh mẽ. Phần 4: Tư Duy Về Xác Suất Rèn luyện tâm trí của bạn để suy nghĩ theo xác suất - 5 chân lý căn bản. 1. Chuyện gì cũng có thể xảy ra. 2. Để kiếm được tiền thì bạn không cần phải biết chuyển gì sẽ xảy ra tiếp theo trên thị trường. 3. Khi bạn đã xác định điểm lợi thế để vào lệnh thì sẽ có kết quả ngẫu nhiên giữa những lệnh thắng và những lệnh thua. 4. Một điểm lợi thế đơn giản chỉ là cái điểm mà khả năng xác suất sẽ xảy ra cao hơn so với điểm khác. 5. Mọi khoảnh khắc trên thị trường đều là độc nhất vô nhị, sẽ chẳng có lần nào giống lần nào. Xác suất là khái niệm thường được nhắc đến, nhưng ít ai hiểu cách áp dụng vào giao dịch. Bản chất của giao dịch là dự đoán giá cả trong tương lai, và giá cả di chuyển do sự chênh lệch giữa người mua và người bán. Trên thị trường có hai kiểu nhà giao dịch: Nhà giao dịch chủ động Đây là những người có khả năng khiến giá di chuyển nhờ nguồn lực tài chính và tâm lý ổn định. Nhà giao dịch bị động Điển hình là các trader nhỏ lẻ như chúng ta, không có đủ nguồn lực tài chính và tâm lý để tác động đến giá. Vì vậy, kết quả của một lệnh giao dịch không phụ thuộc vào các trader nhỏ lẻ mà phụ thuộc vào các nhà giao dịch chủ động. Để biết giá có di chuyển theo kỳ vọng hay không, chúng ta cần biết: - Các nhà giao dịch chủ động có tham gia hay không? - Họ đang mua hay bán? - Có nhà giao dịch nào hấp thụ lệnh khiến giá đứng im? Chúng ta - những người có nguồn lực hạn chế về thông tin và tài chính - không thể biết được ai sẽ tham gia sau khi vào lệnh. Do đó, phương pháp phân tích kỹ thuật hay bất kỳ công cụ nào khác chỉ cung cấp một lợi thế, không đảm bảo kết quả. Mặc dù mô hình giao dịch lần này giống với lần trước, kết quả vẫn không thể biết trước. Tuy nhiên, các mô hình và phân tích kỹ thuật mang lại lợi thế dựa trên hành vi thị trường có thể thống kê được. Với 20-25 lệnh giao dịch, chúng ta có thể xác định kết quả trung bình. Nhưng với mỗi lệnh riêng lẻ, không thể biết trước kết quả. Đây chính là tư duy mà các sòng bạc sử dụng để kiếm tiền. Họ không quan tâm đến kết quả của một người chơi riêng lẻ, mà hướng đến thu hút nhiều người chơi. Với mẫu số lớn, họ sẽ có lợi nhuận. Vì vậy, hãy suy nghĩ theo kết quả của một chuỗi 10-20 giao dịch, không quan tâm đến từng giao dịch riêng lẻ. Khi chuyển hướng tư duy như vậy, bạn sẽ tách khỏi cảm xúc liên quan đến kết quả của mỗi lệnh. Bạn sẽ vào và thoát lệnh không còn sợ hãi, tức giận hay hưng phấn. Phần 5: Thay Đổi Góc Nhìn Đa phần chúng ta bị gắn với kết quả của từng lệnh giao dịch. Hãy so sánh với máy đánh bạc ở casino: Trước khi bấm nút, bạn đã chấp nhận rủi ro và biết kết quả là ngẫu nhiên. Vì vậy, dù thắng hay thua, kết quả ít ảnh hưởng đến tâm lý. Nhưng với giao dịch thì khác. Khi một mô hình kỹ thuật xuất hiện và bạn vào lệnh, bạn không coi đây là kiểm tra xác suất mà kỳ vọng đây là lệnh chắc thắng. - Nếu thắng: Bạn tự tin quá mức, tin rằng hiểu thị trường - Nếu thua: Bạn tức giận, cảm thấy thị trường phản bội Hãy thay đổi góc nhìn: Xem từng giao dịch như sự kiện ngẫu nhiên, không thể đoán trước. Sau một chuỗi giao dịch đủ lớn, kết quả sẽ có xu hướng ổn định và có lợi - nếu bạn có phương pháp với xác suất thắng đủ cao. Tuy nhiên, việc tích hợp tư duy xác suất thành thói quen không hề dễ dàng. Giống như giảm cân: nguyên lý đơn giản (ăn ít, tập nhiều) nhưng thực hiện lại rất khó. Nguyên nhân là do niềm tin và thói quen cũ đã bám rễ trong tâm trí. Thay đổi không nằm ở chỗ biết điều gì đúng, mà ở động lực và cam kết để thay đổi. Đôi khi, bạn chỉ thực sự thay đổi khi chạm tới ngưỡng chịu đựng, khi đã mất quá nhiều tiền. Hãy tìm cho mình một động lực mạnh mẽ: - Ước mơ trở thành nhà giao dịch chuyên nghiệp - Khát khao kiếm sống từ thị trường - Mong muốn trở nên kỷ luật và kiểm soát bản thân tốt hơn Phần 6: Niềm Tin Và Xác Suất Thế giới mà chúng ta nhìn nhận dựa trên thông tin từ trải nghiệm. Những trải nghiệm tạo ra kinh nghiệm và hình thành niềm tin. Điều cần làm là đạt đến điểm mà niềm tin hoàn toàn phù hợp với quan điểm xác suất. Giống như việc xác định một đồng xu có 70% ra mặt ngửa. Điều bạn cần làm là luôn đặt cược vào mặt ngửa. Đơn giản vậy thôi. Nhưng trong thực tế, bạn bắt đầu không tin tưởng và thực hiện đúng. Bạn nghĩ có thể dự đoán từng lần tung xu, và nếu may mắn đúng, niềm tin này càng được củng cố. Khi đó, bạn tự phá bỏ lợi thế của mình. Trong giao dịch cũng vậy. Khi có một vài lần thua, bạn nghi ngờ phương pháp. Tại sao? Vì bạn không muốn sai trong bất kỳ lần nào. Nếu không tư duy trên quan điểm xác suất, bạn sẽ rơi vào vòng luẩn quẩn: - Nếu giao dịch này có thể thua, tại sao phải vào lệnh? - Không tham gia sẽ tiết kiệm được tiền - Nhưng nếu giao dịch đó thắng, bạn sẽ tiếc nuối và mất tự tin Phần 7: Điều Gì Đúng Đắn Trong Giao Dịch? Thực tế là: không có gì tuyệt đối đúng hay sai trong giao dịch. Điều quan trọng nhất là thích nghi với môi trường giao dịch - nơi bất kỳ điều gì cũng có thể xảy ra. Để có lợi nhuận ổn định, bạn cần: 1. Một phương pháp có lợi thế thống kê 2. Tư duy xác suất vững chắc 3. Cài đặt tư duy này như một phản xạ Bạn có một lợi thế giao dịch. Nếu thực hiện đủ nhiều lệnh khi lợi thế xuất hiện, lợi nhuận sẽ đến từ chuỗi giao dịch, không phải từng lệnh đơn lẻ. Bạn không thể biết giao dịch này hay tiếp theo là thắng hay thua, nhưng cần tin tưởng vào kết quả tổng thể. Phần 8: Yếu Tố Cản Trở Thành Công Rất nhiều yếu tố tác động khiến bạn: - Rời xa phương pháp - Rời xa tư duy xác suất - Mất đi lợi thế thực sự Những yếu tố đó bao gồm: - Sợ hãi: sợ mất tiền, sợ sai, sợ bỏ lỡ - Tham lam: không muốn chốt lời đúng thời điểm - Tự tin quá mức: nghĩ mình biết chắc thị trường sẽ đi đâu Những cảm xúc này dẫn đến sai lầm - từ thua nhẹ đến cháy tài khoản. Luôn tồn tại khoảng cách giữa tiềm năng mà phương pháp mang lại và kết quả thực tế. Khoảng cách này do cảm xúc và nhận thức sai lệch từ tâm lý giao dịch. Ví dụ: Khi bạn đang có lệnh mua và thị trường bắt đầu giảm, tâm trí sẽ phớt lờ tín hiệu giảm vì điều đó đồng nghĩa với thua lỗ. Nỗi đau khiến bạn chống lại thực tế và chỉ tìm thông tin củng cố niềm tin rằng giá sẽ tăng. Nếu bạn tách bản thân khỏi kết quả của lệnh hiện tại, bạn sẽ: - Nhìn thị trường khách quan hơn - Thấy thông tin đúng như nó là, không bị bóp méo bởi cảm xúc Lúc này, bạn có thể vào và thoát lệnh nhẹ nhàng, không sợ hãi, không tức giận, không tham lam - giống như một nhà đầu tư chuyên nghiệp. Phần 9: Những Nguyên Tắc Quan Trọng 1. Hiểu sự đa dạng về ý định của các nhà giao dịch khác. Những người đang gửi lệnh mua và bán vào thị trường có thể gây ra bất cứ điều gì. Vì vậy, không thể biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. 2. Kết quả của mỗi giao dịch là duy nhất. Không có cách nào biết được dù cho mô hình hiện tại có giống với mô hình trong quá khứ đến đâu. 3. Thực hiện tín hiệu mà lợi thế yêu cầu. Đặt mình vào tình thế có thể thắng và thu lợi nhuận hoặc phải trả chi phí. Hành động không e dè hay do dự. 4. Tin tưởng vào phương pháp giao dịch. Có lợi nhuận sau một chuỗi giao dịch, không phải một giao dịch riêng lẻ. Phần 10: Để Đạt Thu Nhập Ổn Định Để có thu nhập ổn định từ giao dịch, một trader phải thực hiện các giao dịch mà không mắc lỗi hay sai lầm. Nói cách khác, giao dịch cần được thực hiện không do dự, lưỡng lự hoặc xung đột tinh thần. Về cơ bản, tất cả lỗi mà chúng ta dễ mắc phải đều bắt nguồn từ thiếu tự tin, hoặc cụ thể hơn là giao dịch trong sợ hãi. Điều quan trọng cần nhận ra: giao dịch không sợ hãi là một kỹ năng có thể học được. Đây chính là sự khác biệt cơ bản giữa nhà giao dịch chuyên nghiệp và thông thường. Nhà giao dịch chuyên nghiệp thể hiện sự ổn định trong lợi nhuận và sự nhất quán trong hệ thống giao dịch.
Sửa
Điểm mất cân bằng sau cùng
Câu “Trong trading ta chỉ nên hành động tại điểm mất cân bằng sau cùng” mang hàm ý sâu sắc trong việc chọn thời điểm vào lệnh tối ưu, xuất phát từ nguyên lý cơ bản: thị trường di chuyển vì mất cân bằng giữa cung và cầu. Chọn thời điểm vào lệnh một cách tối ưu. Giải thích ý nghĩa: “Mất cân bằng” là khi có sự chênh lệch rõ ràng giữa lực mua và lực bán. Ví dụ: bên mua quá mạnh (cầu lớn hơn cung) → giá tăng; bên bán quá mạnh → giá giảm. “Điểm mất cân bằng sau cùng” (final imbalance) là thời điểm cuối cùng trong một chuỗi thao túng hoặc tích lũy/phân phối mà tại đó: Smart money (tiền lớn) đã hoàn tất việc gom hàng (accumulation) hoặc xả hàng (distribution). Sau điểm này, thị trường thường di chuyển theo hướng rõ ràng, ít nhiễu, ít bị thao túng hơn. Vì sao nên chờ đến điểm mất cân bằng sau cùng? 1. Hạn chế rủi ro bị thao túng giá: Tránh bị dính bẫy như breakout giả, false move, shakeout… 2. Tối ưu xác suất thắng: Hành động khi dòng tiền lớn đã lộ diện và kiểm soát xu hướng. 3. Tối ưu RR (risk/reward): Vào lệnh tại khởi đầu một chuyển động mạnh, stoploss nhỏ, TP lớn
Sửa
Cấu trúc thất bại
Cấu trúc thất bại - Điểm mạnh: Khi giá chạm cạnh trên của cấu trúc, theo lẽ thông thường giá cũng nên kiểm tra lại cạnh dưới của cấu trúc. Nhưng nếu trong quá trình giá kiểm tra lại cạnh dưới, giá không thể chạm đến vùng đáy của cấu trúc (cạnh dưới). Đó là tín hiệu sức mạnh thể hiện phe mua không cho phép giảm thêm. Có thể đây là điểm hỗ trợ cuối cùng trong pha C - Tích lũy. Cấu trúc thất bại - Điểm yếu: Khi giá chạm cạnh dưới của cấu trúc, theo lẽ thông thường giá cũng nên kiểm tra lại cạnh trên của cấu trúc. Nhưng nếu trong quá trình giá kiểm tra lại cạnh trên, giá không thể chạm đến vùng đỉnh của cấu trúc (cạnh trên). Đó là tín hiệu suy yếu thể hiện phe mua suy yếu, và phe bán không cho phép tăng thêm. Có thể đây sẽ là điểm kháng cự cuối cùng trong pha C - Phân phối. *** Đây là một tín hiệu để đánh giá động lực của chuyển động giá là mạnh hay yếu. Đây là một tín hiệu cần quan sát khi theo dõi thị trường.
Sửa
Có 2 luận điểm không chắc chắn
Chúng ta sẽ không thể biết được ý định của các nhà giao dịch đang hỗ trợ xu hướng hiện tại. Rằng liệu họ có phải những nhà giao dịch ngắn hạn và sẽ chuyển sang phe đối diện để đóng vị thế trong ngắn hạn hay không, hay họ là những nhà giao dịch dài hạn và sẽ tiếp tục gắn bó với xu hướng hiện tại cho đến khi cấu trúc giá được phát triển hoàn chỉnh. Chúng ta sẽ không biết liệu sẽ các nhà giao dịch lớn có tham gia thị trường hay không. Tại thời điểm quyết định - sự kiện Kiểm tra sau điểm Phá vỡ, để xác nhận xu hướng - các nhà giao dịch chủ động với khả năng đẩy thị trường theo hướng ngược lại có thể xuất hiện, vì về lâu dài, họ có thể có một tầm nhìn khác. *** Do đó chúng ta chỉ nên hành động tại điểm mất cân bằng sau cùng. Spring - UTAD
Sửa
Rút ngắn lực đẩy - SOT
1. Trong xu hướng tăng, chúng ta sẽ quan sát cách mà 3 đỉnh cuối, giá di chuyển ngắn hơn các đỉnh trước đó. Điều này cho thấy lực cầu suy giảm và báo hiệu một sự đảo chiều xu hướng giảm có thể sắp xảy ra. 2. Trong xu hướng giảm, chúng ta sẽ quan sát thấy 3 điểm đáy cuối, giá di chuyển ngắn hơn so với các đáy trước đó. Điều này cho thấy lực cung suy giảm và báo hiệu khả năng đảo chiều xu hướng tăng có thể sắp xảy ra. 3. Mẫu hình rút ngắn lực đẩy cũng có thể được tìm thấy dưới dạng các thanh nến riêng lẻ hoặc các bước di chuyển ngắn (các nhóm gồm vài nến). Trong trường hợp này, chúng ta sẽ quan sát cách các nến liên tiếp được tạo ra, liệu lực đẩy của chúng có phải ngày càng ít đi hay không. Nếu các nến hoạt động đúng như những gì chúng ta kỳ vọng, khi đó chúng ta có thể tìm kiếm lợi nhuận bằng cách giao dịch ngược lại với nhóm nến này, trong điều kiện lý tưởng. *** Thể hiện động lực đang dần cạn kiệt của phe đang kiểm soát thị trường. Đây là tin hiệu cảnh bảo xu hướng có thể sắp thay đổi. Cần tối thiểu 3 lần đẩy để mô hình hoạt động hiệu quả.
Sửa
Vùng vào lệnh hợp lý
Vùng vào lệnh hợp lý là vùng gần với Key Level nhất và có mức Stop Loss tối ưu nhất hoặc vùng gần với Stop hunt nhất. 1. Được sự hỗ trợ của SDz, càng gần Key Level càng tốt. Khi giá quay về SDz thì Key Level giống như điểm chặn cuối cùng, có Stop Hunt hay không thì Key Level sẽ là mức quyết định, cho nên chúng ta vào lệnh càng gần Key Level càng tốt. 2. Cấu trúc vào lệnh phải có SL ngắn đễ dễ đạt được TP với mục tiêu ngắn, có cơ hội đạt TP mục tiêu dài với tỷ lệ R:R cao. 3. Tránh được rủi ro không đáng có khi giá có thể đảo chiều tại SDz đối diện. *** Các điểm mua khi phá vỡ cấu trúc nhưng nằm ở xa supply hoặc xa demand quá thì không phải là điểm vào hợp lí vì tỉ lệ R:R không an toàn và giá đi quá xa rồi. Như vậy khi vào lệnh, ngoài việc các bạn phải đánh giá được vị thế của Smart Money, cấu trúc giá, mô hình nến, các bạn phải đánh giá được vùng giá chúng ta đang vào lệnh có hợp lý hay không với Stop Loss ngắn nhất. Tỉ lệ R:R sẽ quyết định rất nhiều đến chuyện thành công của một trader.
Sửa
Tìm điểm vào lệnh tối ưu - Với kỳ vọng lớn
Điểm vào lệnh tối ưu là điểm vào lệnh hợp lý nhất, không phải là điểm cho tỷ lệ thắng 100%. 1. Sử dụng các vị thế trên time frame lớn H4, D1, W, M để làm điểm tựa Location. 2. Sử dụng các vị thể nhỏ hơn ở H1, M30, M15 làm vùng canh Buy/Sell. 3. Sử dụng cấu trúc trên M5, M1 để xác nhận điểm vào lệnh.
Sửa
Động lượng
1. Quan sát đà giảm của giá - Hình thái nến - Hình thái sóng khi giá tiến gần đến vùng cản. Nến thân rộng - Động lượng mạnh. Nến thân hẹp - Động lượng giảm. 2. Quan sát độ dốc của đường giá khi tiếp cận vùng cản: thường từ lần thứ 2. Độ dốc lớn thể hiện lực mua - bán vẫn còn mạnh. Độ dốc thoải thể hiện lực mua - bán đã giảm. 3. Quan sát độ lớn của các con sóng khi tiếp cận vùng cản. 4. Mẫu hình sóng SOT, mẫu hình nến SOT.
Sửa
Một order block hay supply - deman mạnh
Có một số đặc điểm sau: 1. Giá hình thành SDz với volume cao cho thấy qui mô của Supply Demand 2. Quét qua vùng thanh khoản và kích hoạt các Invisible Order của SM. Cái vị trí nào có SM tham gia thì nó sẽ mạnh, cái hành động quét thanh khoản thì thường do SM thực hiện, cho nên tất cả cái vùng SDz nào được hình thành do quét thanh khoản thì tạm thời ta xác định đó là vùng SDz mạnh. 3. Strong depature: tốc độ di chuyển nhanh hình thành các vùng imbalance cho thấy sự mất cân bằng giữa cung và cầu. 4. Remove SD, phá được SDz đối diện (phá đỉnh/ đây đối diện), ví dụ ta thấy SM tham gia vào bán, thì sóng giảm nó phải giảm mạnh phá được cái đáy đối diện trước đó, hay gọi là nó đã đẩy phe mua ra khỏi và hoàn toàn kiểm soát cuộc chơi.
Sửa
Quy luật nguyên nhân - kết quả
1. Khi giá tăng hay giảm chắc chắc phải có nguyên nhân ở đâu đó, còn nguyên nhân ở đâu thì mình không biết, có thể do tin tác động. 2. NGUYÊN NHÂN chủ yếu được hình thành do quá trình tích luỹ/phân phối của SM. 3. KẾT QUẢ luôn luôn tỷ lệ thuận với NGUYÊN NHÂN, tức là cái nguyên nhân nhỏ cho ra kết quả nhỏ, nguyên nhân lớn cho ra kết quả lớn. Dưới góc độ SM nhìn chung nguyên nhân khiến giá cả thay đổi là do sự trao tay - SM mua hết, hàng hoá - cổ phiếu giữa những người thiếu thông tin sang những người có thông tin nội gián riêng. Quy mô được đánh giá qua 2 yếu tố: 1. Biên độ tích luỹ: giá tích luỹ trong mô biên độ lớn thì kết quả tăng giá lớn. 2. Thời gian tích luỹ: tích luỹ thời gian càng lâu thì giá tăng càng nhiều, đơn giản là nếu giá sideway tích luỹ trong 7 ngày, thì giá tăng mạnh hơn là nếu giá chỉ tích luỹ trong 2 ngày. Thời gian tích lũy - phân phối: 1. Trong một số trường hợp tích luỹ với hiện tượng bán cao trào, thời gian diễn ra có thể sẽ nhanh hơn do SM tận dụng bán hoảng loạn đễ gom được lượng lớn hàng hoá, chiến dịch được hoàn thành nhanh hơn. 2. Trong phân phối thường sẽ diễn ra nhanh hơn do quá trình chốt lời thưởng quyết đoán hơn, tâm lý thoải mái và ít tính toán hơn. ** Có nghĩa là không phải lúc nào nó cũng phụ thuộc vào cái thời gian tích luỹ, đó là những trường hợp đặc biệt. Cho nên khi các bạn học mô hình Spike & Leg của Linda Rashky thì nó chỉ có 2 đáy thôi, chứ không có 3 đáy, tại vì ngay trong cái đáy đầu tiên nó là một quá trình bán hoảng loạn, cho nên phần lớn cổ phiếu và hàng hoá nó đã được trao tay trong cái giai đoạn đầu đó rồi. Thì các bạn biết là nếu mà có quá trình bán hoảng loạn đó xảy ra thì cái quá trình tích luỹ nó sẽ diễn ra rất là nhanh. Điều này chỉ ra rằng, không phải cứ phải tích luỹ trong thời gian dài thì giá nó mới đi dài, tích luỹ trong thời gian ngắn thì giá nó sẽ đi ngắn, mà nó sẽ có những trường hợp đặc biệt như vậy, mình phải hiểu cái lý thuyết tường tận để có thể biết được các trường hợp ngoại lệ nó sẽ như thế nào.
Sửa
Quy luật nỗ lực - kết quả
Trên thị trường tài chính: Nỗ Lực được thể hiện bằng volume. Kết quả được thể hiện bởi giá (Di chuyển) - Hình thái nến. Hành động giá phải phản ảnh hành động khối lượng. Không có nỗ lực thì không sinh ra kết quả. Mục tiêu của Trader: Đánh giá sự chi phối của người mua và người bán thông qua sự phân kỳ và hội tụ giữa giá và khối lượng.Hai cái này phải hài hoà với nhau, nếu như mà có sự bất thường giữa nỗ lực - kết quả quả thì có khả năng gây đảo chiều xu hướng. Nỗ lực - kết quả: 1. Nỗ lực nhiều → Kết quả: Giá di chuyển nhiều = Hài hoà → Giá tiếp diễn. 2. Nỗ lực nhiều → Kết quả: Giả di chuyển ít = Phân kỳ (Smart Money đè giá) — Đảo chiều. 3. Nỗ lực ít → Kết quả: Giá di chuyển nhiều = Phân kỳ (thiếu sự quan tâm) — Đảo chiều Đánh giá nỗ lực và kết quả dựa trên ba phần: 1. Trong một xu hướng (diễn biến giữa các sóng). Sóng đẩy phải có volume cao hơn sóng điều chỉnh. Sóng đẩy sau phải có volume cao hơn sóng đẩy trước. 2. Trong một nhịp tăng giảm (giữa sóng tăng và sóng giảm). Sóng đẩy phải có volume cao hơn sóng điều chỉnh. 3. Giữa các cây nến trong một bước sóng (1 sóng tăng hoặc 1 sóng giảm). Volume cao phải đi kèm với kết quả tăng sau đó.
Sửa
Mô hình nến - cấu trúc
Thị trường đang giảm mạnh mà nó muốn đảo chiều, thì trước tiên tốc độ giảm giá của nó phải yếu lại, sau đó đi ngang để hấp thụ cung - cầu, cuối cùng tạo Shakeout và đẩy giá vượt lên trên. Đây là quá trình tích luỹ của Wyckoff. Các bạn nhớ khi giao dịch theo mô hình Nến hay mô hình cấu trúc thì chúng phải đều có ý nghĩa như nhau, tại vì cung - cầu thì nó luôn có ý nghĩa giống như nhau. Quá trình đảo chiều nó sẽ trải qua 3 giai đoạn như vậy: Pha A là giá sẽ giảm chậm lại, pha B là hấp thụ cung - cầu, đến khi nào cung - cầu của phe đối diện cạn kiện, nó sẽ thể hiện bằng cái volume rất là thấp, và trong nến thì nó sẽ thể hiện bằng những nến đi ngang, pha C tạo shake out (hoặc ko tạo shakeout) và bắt đầu tăng giá.
Sửa
Setup - Xác suất cao
1. Có stop hunt + phá vỡ cấu trúc + spring/utad là một setup chất lượng cao.
Sửa
Vùng thanh khoản
1. Cách xác định vùng thanh khoản: - Cản được hình thành bởi nhiều điểm chạm - Từ 2 điểm chạm trở lên - Cản có đường ngang hoặc chéo. - Đỉnh đáy được hình thành bởi các phiên Á, Âu, Mỹ hoặc khung thời gian cao H1, H4, Day... - Vùng đỉnh đáy hình thành với volume cao hoặc siêu cao. 2. Lợi ích của việc xác định trước vùng thanh khoản: - Tránh bị quét SL. - Tránh mất thời gian đợi bằng việc đặt cách báo khi giá tiếp cận vùng thanh khoản - sau đó xem phản ứng. - Xác định được TP tiềm năng khi đã có lệnh vào trước đó. - Xác định được dấu vết của SM từ đó đi theo và tăng xác suất thắng. - Tăng tỉ lệ R:R. 3. Cách làm: 1. Xác định vùng thanh khoản trên chart. 2. Quan sát phản ứng khi giá tiếp cận vùng thanh khoản. 3. Tìm tín hiệu.
Sửa
Cách vẽ Key Level
1. Vẽ key level chưa bị phá (Đỉnh/đáy rõ ràng). 2. Chỉ nên vẽ 2, 3 Key level xung quanh giá hiện tại. ** Key level mà trong vùng fibo thì ưu tiên vùng giá tại key level.
Sửa
1111
111
Sửa
VSA - 4 yếu tố
1. Bối cảnh. 2. Biên độ. 3. Giá đóng cửa. 4. Volume. *** Múc đích: 1. Xác định dòng tiền thông minh (Smart Money). 2. Phát hiện các tín hiệu đảo chiều mạnh (Spring, Upthrust). 3. Phát hiện điểm tiếp diễn xu hướng. *** VSA là mô hình nhỏ của Wyckoff dưới dạng nến.
Sửa
Phương pháp luận
Để giá tăng, trước tiên phải có sự tích lũy, và để giá giảm thì phải có sự phân phối. Hình thức và cách thức diễn ra các quá trình này không nên là yếu tố quyết định. Linh động: Wyckoff không phải là một mô hình giá cố định, giá có thể hình thành các cấu trúc khác nhau tuỳ thuộc vào bối cảnh thị trường thời điểm đó. Pha B có thể có 1 đáy, 2 đáy, 3 đáy … thời gian hấp thụ nhanh hay chậm tuỳ thuộc lượng cung - cầu còn nhiều hay ít đây chính là khía cạnh linh động của phương pháp Wyckoff. Cố định: Để tránh sự chủ quan khi phân tích, Wyckoff đưa ra những tiêu chuẩn cố định là các pha, sự kiện hình thành lên cấu trúc giá. Cho phép đọc thị trường một cách khách quan nhất có thể. Cung cấp một lộ trình rõ ràng, một bối cảnh để chờ đợi các biến động giá tiếp theo. Theo dõi hành động giá và volume đang xảy ra để chọn ra động thái nào có tỷ lệ xảy ra tiếp theo cao nhất. Chỉ có thể đưa ra kịch bản có xác suất cao ở bước tiếp theo và không bao giờ dự đoán quá xa. ** Không có phương pháp nào bắt giá chạy theo. Giá không đi theo wyckoff. VSA dùng để ra quyết định - vào Entry. Còn Cấu trúc Wyckoff là bối cảnh có xác suất thành công cao. Wyckoff - VSA là phương pháp tốt nhất: 1. Không chủ quan. 2. Không dễ bị thao túng vì phương pháp này phát hiện dòng tiền thao túng giá. 3. Nó chỉ ra nguyên nhân căn bẳn đằng sau sự biến động của thị trường, hiểu nguyên nhân mất cân bằng Cung-Cầu. Xác nhận - Bác bỏ sự kiện: 1. Tránh đánh sai tên sự kiện. 2. Sự kiện sau xác nhận - bác bỏ sự kiện trước. ** Các quyết định đầu tư và giao dịch dựa trên ba yếu tố: bối cảnh, cấu trúc, khu vực để giao dịch.
Sửa
Tam pháp ấn
1. Chư hành vô thường - Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường Mọi sự vật, hiện tượng luôn biến đổi, không cố định, đi theo tiến trình riêng của nó, không có gì tồn tại mãi mãi. Hiểu được vô thường giúp chúng ta buông bỏ chấp trước, không bám víu vào những thứ tạm bợ. 2. Chư pháp vô ngã - Mọi pháp đều không có tự ngã Không tồn tại bất cứ một cái gì độc lập, không thay đổi, trường tồn, cố định ở mọi sự vật hiện tượng. Không có cái "tôi", cũng không có cái của tôi. Hiểu được vô ngã giúp ta giảm bớt sự ích kỷ, ngã mạn và tham ái. 3. Niết bàn tịch tĩnh - Niết bàn là sự an tĩnh Niết-bàn là trạng thái giải thoát khỏi sinh tử, thoát khỏi vô minh, tham ái và khổ đau. Đó là sự tĩnh lặng tuyệt đối, không còn phiền não, không còn sinh diệt. Đây là mục tiêu tối thượng của người tu học Phật pháp. ** Tất cả chỉ là duyên hội tụ và duyên tan, chứ không có gì sinh, diệt cả.
Sửa
Tích lũy
1. Pha A: Dừng xu hướng giảm chuyển sang đi ngang - 4 sự kiện PS - Hỗ trợ ban đầu. SC - Bán cao trào - Đáy (1) AR - Hồi phục kỹ thuật (SM chưa có mục đích đẩy giá tăng ngay do đó chỉ tăng một đoạn). ST - Kiểm tra thứ cấp - Xác nhận dừng xu hướng - (Đáy 2) ** Tư duy: Không cần cố gắng tìm PS, hay SC mà hãy chờ cho giá tạo CHOCH hoặc tạo 2 đáy rồi hãy vào đánh giá => Tránh mất thời gian. Khi nào cần xem pha A sớm? Đó là khi đã có vị thế Sell trước đó rồi - Tìm điểm chốt lời. 2. Pha B: Hình thành nguyên nhân - Hấp thụ nguồn cung - 2 sự kiện UA - Upthrust action - Phá vỡ biên trên tạm thời rồi quay lại ngay. ST as SOW - Phá vỡ biên dưới tạm thời rồi quay lại - Đáy (2) ** Hình thành thêm TR phụ nếu có UA hoặc SOW. 3. Pha C: Kiểm tra nguồn cung còn lại - 2 sự kiện Sự kiện Spring - Đáy (3) Sự kiện kiểm tra - ST sau Spring. 4. Pha D: Xu hướng tăng vẫn nằm bên trong TR. Sử dụng kỹ thuật đánh Breakout để vào lệnh. 5. Pha E: Xu hướng tăng bên ngoài TR. Sử dụng kỹ thuật đánh Pullback - Thuận/tiếp diễn theo xu hướng. Nơi mở vị thế: 1. Tại Spring loại 3 - Pha C. 2. Test sau spring - Pha C. 3. Xu hướng bên trong TR - Pha D. 4. Test sau điểm phá vỡ TR - Pha D. 5. Xu hướng bên ngoài TR - Pha E. ** Creek: Vùng kháng cự yếu nhất - Dễ dàng phá vỡ vì nguồn cung đã được hấp thụ hết trong pha B. ** Quan sát volume tại đáy biên TR. Quan sát tín hiệu Spring tiềm năng + Test. Quan sát tín hiệu phá vỡ cấu trúc tại đáy 3.
Sửa
VSA - Giá đóng cửa
1. Giá đóng cửa gần mức cao => Cầu mạnh. 2. Giá đóng cửa gần mức thấp => Cung mạnh. 3. Giá đóng cửa ở giữa => Cung cầu cân bằng.
Sửa
Phân phối
1. Pha A: Dừng xu hướng tăng chuyển sang đi ngang - 4 sự kiện PSY - Điểm kháng cự ban đầu. BC - Mua cao trào - Đỉnh (1). AR - Điều chỉnh kỹ thuật. ST - Kiểm tra thứ cấp - Đỉnh (2). ** Tư duy: Không cần cố gắng tìm PS, hay SC mà hãy chờ cho giá tạo CHOCH hoặc tạo 2 đáy rồi hãy vào đánh giá => Tránh mất thời gian. 2. Pha B: Hình thành nguyên nhân - Hấp thụ nhu cầu - 2 sự kiện UT - Upthrust action - Phá vỡ biên trên tạm thời rồi quay lại ngay - Đỉnh (2). ST as SOW - Phá vỡ biên dưới tạm thời rồi quay lại. ** Hình thành thêm TR phụ nếu có UT hoặc SOW. 3. Pha C: Kiểm tra nguồn cầu còn lại - 2 sự kiện Sự kiện UTAD - Đỉnh (3). Sự kiện kiểm tra - ST sau UTAD. ** Tại đỉnh thứ 3 - Wyckoff. 4. Pha D: Xu hướng giảm vẫn nằm bên trong TR. 5. Pha E: Xu hướng giảm bên ngoài TR. Nơi mở vị thế: 1. Tại UTAD loại 3 - Pha C. 2. Test sau UTAD - Pha C. 3. Xu hướng bên trong TR - Pha D. 4. Test sau điểm phá vỡ TR - Pha D. 5. Xu hướng bên ngoài TR - Pha E. ** Quan sát volume tại đỉnh biên TR. Quan sát tín hiệu UTAD tiềm năng + Test. Quan sát tín hiệu phá vỡ cấu trúc tại đỉnh 3.
Sửa
VSA - Spread - Phạm vi giá
Rộng: Tham gia mua - bán mạnh mẽ. Hẹp: Thiếu quan tâm hoặc thị trường đang tích lũy - phân phối hoặc chờ đợi thông tin mới.
Sửa
Kinh nghiệm quan sát
1. Đang trong giai đoạn tích lũy hay phân phối gì thì cũng kệ. 2. Khi nào vùng sideway có 2 đỉnh ngang, 2 đáy ngang thì theo dõi. 3. Nếu đỉnh/đáy 3 có UTAD hoặc Spring thì theo. Vùng biên trên - dưới TR: 1. Ở vùng biên trên TR => Tìm cấu trúc phân phối ở khung thời gian nhỏ hơn. 2. Ở vùng biên giới TR => Tìm cấu trúc tích luỹ trong khung thời gian nhỏ hơn. 3. Điểm phá vỡ Creek là bằng chứng rõ ràng nhất về mức độ quyết liệt mà ta có thể đánh giá phe nào đang kiểm soát thị trường. ** Phe mua ưu thế: 1. Phe mua lại tiếp tục mua vào - Volume tại đáy biên cao. 2. Phe bán không bán nữa - Volume tại đỉnh biên thấp. Phe bán ưu thế: 1. Phe bán tiếp tục bán ra - Volume tại đỉnh biên cao. 2. Phe mua không mua nữa - Volume tại đáy biên thấp.
Sửa
4 cách quản lý vốn
1. Vào lệnh đều tay - Mỗi lệnh chỉ 1, 2% TK. 2. Không nhồi lệnh. 3. Luôn đặt SL, không gồng SL, chạm SL thì bỏ. 4. Chốt lệnh từng phần - Theo từng điểm. 5. Không sợ hãi khi vào lệnh - Không tham lam để FOMO. 6. Đặt rủi ro cho phép trong một ngày - VD: -5% một ngày là dừng lại.
Sửa
Thay đổi tính chất của xu hướng - CHOCH
Từ giảm sang đi ngang - Pha A - Từ đi ngang sang tăng - Pha D. Từ tăng sang đi ngang - Pha A - Từ đi ngang sang giảm - Pha D. Dấu hiệu nhận biết: 1. Phá đỉnh/đáy gần nhất. 2. Phá vỡ đường xu hướng trước đó. 3. Sóng ngược xu hướng với biên độ lớn hơn đáng kể so với các sóng cùng hướng trước đó. 4. Ngăn chặn đà tăng/giảm tiếp của giá.
Sửa
Phân phối - Buying Climax - Cao trào mua
1. Bối cảnh: Điểm khởi đầu phân phối trong Wyckoff. - Xuất hiện tại cuối xu hướng tăng. - Lực mua đạt đến đỉnh điểm. 2. Nến: Biên độ rộng, Bóng nến trên> 25%, Giá đóng cửa gần mức thấp. 3. Volume: Cao hoặc siêu cao. 4. Xác nhận: - Một nến giảm giá sau nến Buying Climax. - Giá không tạo được đỉnh cao hơn sau khi giá Test về vùng vị thế SM. ** Khi 1 Climax xuất hiện thì ta phải chờ tín hiệu xác nhận chứ không phải nhảy vào đánh ngay. Sử dụng mô hình Spike and ledge hoặc mô hình 2 đỉnh.
Sửa
Tích lũy - Selling Climax - Cao trào bán
1. Bối cảnh: Điểm khởi đầu tích lũy trong Wyckoff. - Xuất hiện tại cuối xu hướng giảm. - Lực bán đạt đến đỉnh điểm. 2. Nến: Biên độ rộng, Bóng nến dưới > 25%, Giá đóng cửa gần mức cao. 3. Volume: Cao hoặc siêu cao. 4. Xác nhận: - Một nến tăng giá sau nến Selling Climax. - Giá không tạo được đáy thấp hơn sau khi giá Test về vùng vị thế SM. ** Khi 1 Climax xuất hiện thì ta phải chờ tín hiệu xác nhận chứ không phải nhảy vào đánh ngay. Sử dụng mô hình Spike and ledge hoặc mô hình 2 đáy.
Sửa
Phân phối - No Demand - Không có cầu
1. Bối cảnh: - Một đợt phục hồi. - Một đợt tăng giá. - Hoặc giá quay lại test vùng vị thế SM (cung) trước đó. 2. Nến: Thân hẹp, không có bóng trên dài, giá đóng cửa ở nửa dưới của thanh nến. 3. Volume: Thấp (Thấp hơn trung bình hoặc thấp hơn các thanh liền trước đó). 4. Xác nhận: Một nến giảm giá với volume tăng sau nến No Demand. * * Cho thấy cầu yếu hoặc không có lực mua.
Sửa
Tích lũy - No Supply - Không có cung
1. Bối cảnh: - Một đợt điều chỉnh giảm. - Một đợt giảm giá. - Tại vùng vị thế SM (Cầu) khi giá quay trở lại test nguồn cung. 2. Nến: Thân nhỏ, Không có bóng nến dưới dài, giá đóng cửa nằm ở nửa trên của thanh nến. 3. Volume: Thấp (Thấp hơn trung bình hoặc thấp hơn các thanh liền trước đó). 4. Xác nhận: Một nến tăng giá với volume tăng sau nến Test For Supply. * * Cho thấy cạn nguồn cung và sẵn sàng để tăng giá.
Sửa
Tích lũy - Test For Supply - Kiểm tra cung
1. Bối cảnh: - Một đợt điều chỉnh giảm. - Một đợt giảm giá. - Tại vùng vị thế SM (Cầu) khi giá quay trở lại test nguồn cung. 2. Nến: Thân nhỏ, bóng nến dưới dài, giá đóng cửa nằm ở nửa trên của thanh nến. 3. Volume: Thấp (Thấp hơn trung bình hoặc thấp hơn các thanh liền trước đó). 4. Xác nhận: Một nến tăng giá với volume tăng sau nến Test For Supply. * * Cho thấy cạn nguồn cung và sẵn sàng để tăng giá. Test nguồn cung cho đến khi cạn cung - Có thể test nhiều lần.
Sửa
Phân phối - Upthrust - Lấy thanh khoản trên
1. Bối cảnh: - Một đoạn tăng giá. - Tại đỉnh một xu hướng tăng. 2. Nến: Thân ngắn, bóng nến trên dài, giá đóng cửa trong TR - Key level. 3. Volume: Cao hoặc siêu cao. 4. Xác nhận: Nến giảm sau nến Upthrust. ** Lực mua cạn kiệt, Tín hiệu đảo chiều từ tăng sang giảm. Tại đỉnh thứ 2 - Wyckoff. Sử dụng mô hình 2 đỉnh hoặc mô hình Spike and ledge.
Sửa
Tích lũy - Downthrust - Lấy thanh khoản dưới
1. Bối cảnh: - Một đoạn giảm giá. - Tại đáy một xu hướng giảm. 2. Nến: Thân ngắn, bóng nến dưới dài, giá đóng cửa trong TR - Key level. 3. Volume: Cao hoặc siêu cao hoặc cao hơn trung bình. 5. Xác nhận: Nến tăng sau nến Upthrust. ** Lực bán cạn kiệt, Tín hiệu đảo chiều từ giảm sang tăng. Tại đáy thứ 2 - Wyckoff. Sử dụng mô hình 2 đáy hoặc mô hình Spike and ledge.
Sửa
Tích lũy - Stopping Volume - Volume dừng
Mô tả: Xuất hiện khi giá giảm mạnh với volume lớn, nhưng không giảm sâu nữa, cho thấy SM bắt đầu mua vào, dấu hiệu tạo đáy. Ý nghĩa: Đây có thể là dấu hiệu của sự kết thúc xu hướng giảm và chuẩn bị cho một đợt tăng mới.
Sửa
Volume - 2 mẫu hình phân kỳ volume
1. Stopping volume. 2. Bag holding - Thể hiện mức độ quyết liệt của SM.
Sửa
Phân phối - Test For Demand - Kiểm tra cầu
1. Bối cảnh: - Một đợt phục hồi. - Một đợt tăng giá. - Tại vùng vị thế SM (Cung) khi giá quay trở lại Test lực cầu. 2. Nến: Thân nhỏ, bóng nến trên dài, giá đóng cửa ở nửa dưới của thanh nến. 3. Volume: Thấp (Thấp hơn trung bình hoặc thấp hơn các thanh liền trước đó). 4. Xác nhận: Một nến giảm mạnh với volume tăng sau nến Test For Demand. ** Cho thấy cầu yếu hoặc không có lực mua.
Sửa
Biên độ giá và volume
1. Biên độ rộng + volume lớn: Cung - Cầu mạnh mẽ. - Thời điểm xảy ra là khi thị trường có biến động lớn hoặc trong giai đoạn bứt phá. 2. Biên độ hẹp + volume lớn: Phân kỳ - Dấu hiệu của SM đè giá. 3. Biên độ rộng + volume thấp: Phân kỳ - Thiếu sự quan tâm (SM dẫn dụ). 4. Biên độ hẹp + volume thấp: Xảy ra trong các giai đoạn tích lũy hoặc do dự, thiếu quyết đoán => chuẩn bị cho một động thái lớn.
Sửa
Quản trị vốn là ưu tiên hàng đầu
1. Chỉ dành tối đa 20% tiền cho đầu tư mạo hiểm. 2. Không bao giờ để tiền đầu tư ảnh hưởng vào tiền thiết yếu (Sinh hoạt...). 3. Đưa ra mức lỗ một ngày rồi dừng hẳn ngày đó khi lỗ. - Chỉ mở TK có giá trị bằng mức lỗ một ngày. - Chuyển tiền lời của TK theo ngày hoặc theo tuần vào TK tiết kiệm.
Sửa
Bảo vệ vốn
Vốn là nguồn lương thực giúp chúng ta duy trì trong lúc học hỏi, luyện tập. Bảo vệ vốn là việc cần ưu tiên hàng đầu.
Sửa
Tích lũy - Các mẫu hình gom hàng
1. Climax 2. Downthrust 3. Stopping volume 4. Bag holding 5. Two bar RVS 6. Bottom RVS ** Xu hướng giảm. Volume siêu cao. Giá giảm chậm, chặn đà giảm, đảo chiều giảm.
Sửa
No/Test For Demand, No/Test For Supply
Sau một vài bối cảnh đặc biệt: Climax, Upthrust, Downthrust có thể sẽ xuất hiện các mẫu nến No/Test for demand, No/Test for supply. Thể hiện cung cầu đã cạn. Ở đáy - Người bán không còn muốn bán nữa. Ở đỉnh - Người mua không còn muốn mua nữa.
Sửa
Chánh niệm
Là sự nhận biết rõ ràng và trọn vẹn về thực tại trong giây phút hiện tại, thấy đúng như nó đang là, không bị dính mắc hay phóng đại. Thân: Nhận biết có sự đi lại, có việc ăn uống, có bước chân trái đưa lên, có bước chân phải chạm xuống, có sự nhai, có sự nuốt, có sự co tay... Cảm thọ: Nhận biết có cảm thọ vui, buồn khởi lên. Tâm: Nhận biết rõ các tâm khởi lên tâm tham, tâm sân, tâm si, tâm kiêu mạn, tâm nghi ngờ... Pháp: Quan sát các quy luật của thân tâm, nhận ra bản chất vô thường (Anicca), khổ (Dukkha), vô ngã (Anatta).
Sửa
Effort vs Result
Volume cao nhưng giá ít biến động → dấu hiệu hấp thụ hoặc phân phối.
Sửa
Tích lũy - Đặc điểm khung giá
1. Đi kèm với volume giảm dần trong suốt quá trình phát triển cấu trúc. 2. Volume và độ biến động giá giảm đi, thu hẹp đi trong quá trình hình thành khung giá => Ngày càng ít cổ phiếu trôi nổi để bán. 3. Các lần kiểm tra ở vùng cao của khung giá có volume cạn kiệt => Thiếu vắng lực bán, ngoại trừ khi giá chuẩn bị bắt đầu chuyển động vượt ra ngoài khung giá. 4. Các lần spring về các đáy trước đó: có thể là cú rũ bỏ toàn bộ các vùng hỗ trợ hoặc các đáy nhỏ bên trong khung giá. 5. Các thanh tăng giá có biên độ lớn và dễ dàng hơn so với các thanh giảm => có nguồn cầu chất lượng tốt đang nhảy vào và chất lượng phía cung đang yếu đi. 6. Hình thành các đỉnh cao hơn, các đáy cao hơn - Pha D.
Sửa
Tích lũy - Pha A
Tích lũy - Pha A - 1. Sự kiện PS - Điểm chặn ban đầu Bối cảnh: Thị trường đang trong một xu hướng giảm và giá chạm đến ngưỡng hấp dẫn với những SM. Hình thái: Volume cao => có sự tham gia của SM. Sử dụng: Ngưng giao dịch theo xu hướng giảm. Thời điểm tốt để chốt lợi nhuận. Càng có nhiều điểm PS xuất hiện => chuyển động giá cực đoan cuối cùng sẽ xuất hiện với volume không đáng kể => kiệt sức bán. Trước khi PS xuất hiện thì các PS trước đó gọi là PS tiềm năng. PS thực sự xác nhận khi cả 4 sự kiện pha A hình thành. 2. Sự kiện SC Hình thái nến 1. Một loạt các thanh giá với khung giá hẹp và volume duy trì ở mức cao liên tục. 2. Một nến duy nhất có volume cao và bóng nến dưới dài. ** Đối khi SC chính là PS. 3. Sự kiện AR 1. Tại điểm bắt đầu sự kiện ta sẽ thấy khung giá rộng, khung giá sẽ dần dần thu hẹp lại khi di chuyển đến điểm cuối của sự kiện. 2. AR không đi được xa + Volume không cao => Chưa xuất hiện nguồn lực đủ mạnh => Thị trường chưa đạt tới sự cân bằng. 4. Sự kiện ST Sự kiện chấm hết cho pha A = Chặn lại xu hướng trước đó. Bối cảnh: Đi từ xu hướng giảm sang đi ngang. Đặc điểm: Volume và biên độ giảm đáng kể so với SC - Áp lực bán giảm. ST nửa trên - Phe mua ưu thế. ST nửa dưới - Phe bán ưu thế. ** Đôi khi ST chính là SOW. Giá giảm với biên độ đáng kể so với SC => Test ST thất bại => Xu hướng giảm tiếp tục => Xóa bỏ toàn bộ nhãn. 3 Lưu ý quan trọng: 1. SM tham gia - Volume cao tại PS, SC. 2. Sóng tăng AR làm thay đổi tính chất của xu hướng - Nỗ lực của SM có kết quả. 3. Phải dừng được xu hướng trước đó - Test thành công sự kiện ST.
Sửa
Tích lũy - Pha B
1. Sự kiện UA: Phá vỡ biên TR bên trên sau đó quay trở lại vào trong TR. Sau UA: Nếu giá giảm mạnh về biên dưới và không phá đáy TR biên dưới => Có thể là tái phân phối vì các SM tìm cơ hội giá cao để bán ra hoặc Pha B sẽ còn kéo dài vì cần nhiều thời gian hơn để hấp thụ. Nếu giá giảm yếu và không thể tiếp cận biên dưới => Phe mua mạnh đã hấp thụ lệnh bán khống biên trên TR để giảm áp lực bán để quá trình đẩy giá lên được dễ dàng => Khả năng pha B kết thúc nhanh => Khả năng pha C không có Spring. Nếu giá giảm mạnh và phá đáy TR bên dưới thì đó có thể đang tạo Spring tiềm năng. 2. Sự kiện ST as SOW: Phá vỡ biên TR bên dưới sau đó quay trở lại vào trong TR. Sau SOW: Nếu giá tăng mạnh tiếp cận về biên trên - Thường volume sẽ cao => Phe mua mạnh => Pha B có thể kết thúc nhanh => Pha C có thể không có Spring. Nếu giá tăng yếu và không thể tiếp cận về biên trên TR => Phe mua yếu => Pha B có thể còn kéo dài => Các điểm test sau đó có thể thấp hơn điểm SOW hoặc có thể hình thành mô hình tích lũy hướng xuống dưới. Sự kiện này có khả năng cao xảy ra khi ST ở pha A tạo ra đáy thấp hơn => Thị trường suy yếu quá mức và khu vực này cần được kiểm tra lại trong tương lai. Giá test về mà không vượt được SOW thì có thể không hình thành Spring. ** Giá tăng mạnh sau khi tạo SOW + giá test lại không vượt qua SOW => Phe mua mạnh. Giá tăng yếu sau khi tạo SOW => Giá có thể phá đáy SOW ở lần Test sau. Cả 2 bên đều mạnh nhưng sau đó giá không thể tiếp cận biên trên => Có thể hình thành Spring trong pha C. Cả 2 bên đầu mạnh => Có thể hình thành Spring. Thời gian hình thành lớn hơn hoặc bằng pha A. Dựa vào phân tích UA và SOW chúng ta có thể xác đinh: 1. Pha B kết thúc nhanh hay chậm. 2. Giá có hình thành Spring hay không. 3. Tránh được tình trạng mua sớm do dính đa phân kỳ. Dấu hiệu kết thúc pha: 1. Dấu hiệu phe bán mạnh thì pha B sẽ còn kéo dài để hấp thụ cho đến khi volume cạn kiệt. 2. Dấu hiệu phe mua mạnh thì pha B sẽ được rút ngắn (Volume tăng cao ở đáy và giá tiếp cận mạnh lên biên trên TR). 3. Khi dấu hiệu của pha C được hình thành.
Sửa
Tích lũy - Pha C
3 loại Spring tiềm năng: 1. Spring với biên độ lớn và volume lớn. 2. Spring với biên độ vừa phải và volume lớn. 3. Spring với biên độ nhỏ và volume nhỏ (Cho thấy phe Sell rất là yếu rồi). Mục đích Spring: 1. Loại bỏ những nhà giao dịch yếu ra khỏi thị trường. 2. Đẩy những kẻ khôn ngoan không đúng chỗ ra khỏi thị trường. ** Chỉ Spring/Shakeout loại (3) mới có thể vào lệnh trực tiếp còn lại thì cần chờ Test. Vào lệnh an toàn nhất khi Spring hình thành dưới dạng cấu trúc nhỏ, Áp dụng mô hình Spike and ledge hoặc mô hình 2 đáy sẽ đạt hiệu quả tối ưu. Sau Spring tiềm năng, giá phải phá vỡ TR và đi vào Phase D, nếu không có đặc điểm này Spring tiềm năng chỉ được xem là test (đổi nhãn Spring thành ST-B). Test Spring thành công: 1. Volume tại đáy Test Spring phải thấp hơn đáng kể so với đáy hình thành Spring. 2. Đáy Test spring không được thấp hơn đáy Spring (Đáy sau cao hơn đáy trước). Vào lệnh khi không có Spring: 1. Shakeout/Spring trong cấu trúc nhỏ. 2. Vào lệnh theo mô hình QML. 3. Vào lệnh theo mô hình 3 C Mark Minervini. 3C ở dưới TR. 3C ở giửa TR. 3C ở trên TR. ** Spring: Mục tiêu là kích hoạt đám đông bán và mua lại của đám đông.
Sửa
Phân phối - Đặc điểm khung giá
1. Xuất hiện những volume giao dịch cao bất thường trong suốt quá trình phát triển cấu trúc. 2. Biến động giá mạnh sẽ là điều được nhìn thấy và volume vẫn được duy trì ở mức cao. 3. Các lần kiểm tra tại các vùng thấp của khung giá có volume cạn kiệt, cho thấy sự thiếu vắng của bên mua, ngoại trừ khi giá chuẩn bị chuyển động ra khỏi khung giá. 4. Các cú rũ bỏ ở các đỉnh so với các đỉnh trước đó, hoặc là vượt qua vùng kháng cự hoặc vượt qua các đỉnh nhỏ bên trong khung giá. 5. Các thanh giá giảm sẽ rộng hơn và dễ dàng hơn so với các chuyển động tăng và thanh giá tăng. Điều này cho thấy phía cung đang ngày càng giảm mạnh lên và phía cầu đang yếu đi. 6. Sự hình thành các đỉnh thấp hơn và đáy thấp hơn - Pha D.
Sửa
Web hosting by Somee.com